CHƯƠNG I. NỘI DUNG PHÁP LÝVÀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG VÀ QUYỀN CHO THUÊ ĐẤT TRONG LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM 1.1/ Nội dung pháp lý của chế định pháp luật về quyền sử dụng và quyền cho thuê đất trong luật đất đai Việt nam.1/ Đất đai cơ sở xác lập quyền sở hữu: a Đất đai: Để xác lập nên quyền sở hữu đất đai trước hết ta cần hiểu đất đai như thế nào? nó có vai trò to lớn như thế nào trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Đất đai là tài sản quan trong của mỗi Quốc gia, nó là bộ phận tạo nên lãnh thổ và luôn gắn liền với chủ quyền của mỗi nước. Các cuộc đấu tranh chống xâm phạm đất đai của mỗi nước là đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia mình.
Đấu tranh đòi chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ cứñng là mục tiêu của các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. 13 Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá, đất là tư liệu sản xuất chính của một số ngành chủ yếu như nông nghiệp, lâm nghiệp, là nguyên liệu chính làm ra vật liệu xây dựng, mỹ nghệ, là địa điểm để đặt máy móc, kho tàng, nơi xây dựng, bến bãi, nhà xưởng. để tiến hành sản xuất, tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhằm nuôi sống con người và thúc đẩy xã hội không ngừng phát triển, để cập vai trò kinh tế của đất - Mác đã viết "Đất là mẹ, lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất"(9-1) (CMác-Ph.Ănggen tuyển tập, tập 23 trang 189, NXB ST, Hà nội, 1970). - Đối với đời sống hàng ngày của con người, đất là nơi xây dựng nhà cửa để ở, các công trình văn hóa, giao thông công cộng, tiến hành hoạt động văn hóa, là nơi phân bố các khu kinh tế, các khu dân cư, là cơ sở phát triển các hệ sinh thái, tạo nên môi trường sống của con người và duy trì sự sống nói chung.
Hội nghị các Bộ trưởng các nước năm 1993 họp ở Anh đã đánh giá "Đất đai là một trong những tài sản quý nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên mặt đất. - Đất đai là một bất động sản, là tài sản đặc biệt của tất cả các quốc gia trên thế giới, nó có vai trò hết sức quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, trong đời sống mỗi con người và từng dân tộc cũng như trên thế giới vì vậy nó là 14 mục tiêu, là đối tượng, nhiệm vụ hàng đầu cần phải giải quyết của tất cả các cuộc cách mạng trong lịch sử. b/ Cơ sở xác lập quyền sở hữu toàn dân về đất đai: * Để xác lập quyền sở hữu đất đai - trước hết làm rõ khái niệm chiếm hữu: với một lẽ thông thường, cố chiếm hữu thì mới có sở hữu. Luật dân sự cho rằng: "quyền chiếm hữu là quyền được giữ vat sở hữu trong tay, vật sở hữu nằm trong tay ai một cách hợp pháp thì người đó có quyền chiếm hữu".
Như vậy, đã là chủ sở hữu thì được quyền chiếm hữu, và trái lại có chiếm hữu thì sở hữu mới thành thực sự. Nhà nước là chủ sở hữu đất đai, Nhà nước chiếm hữu bằng cách: giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để sử dụng đúng mục đích, phù hợp luật pháp hiện hành. *Một số đặc diểm của sở hữu ruộng đất ở Việt nam trong lịch 9 su Hiện nay nước ta là một trong số ít nước trên thế giới thực hiện sở hữu toàn dân đối với đất đai, một số nước khác là sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể. Còn đa số các nước đất đai là sở hữu tư nhân, vì thế các quan hệ đất đai được điều chỉnh MÀ bởi các quy phạm pháp luật dân sự.
O nước ta quan hệ đất đai 15 có những đặc thù nhất định: Do lịch sử để lại, với hàng ngàn năm Bắc thuộc, hàng ngàn năm dưới triều đại phong kiến với nhà nước quân chủ chuyên chế tập trung, dân tộc ta lại phải tiến hành kháng chiến chống dé quốc Pháp, Nhat, Mỹ kéo dài. Việc thực hiện cải cath ruộng đất sau cách mạng thành công và đi lên xây dựng chế độ mới XHCN - trong đó nhiệm vụ cơ ban của Dang và Chính phủ về giải quyết chính sách ruộng đất là vô cùng quan trọng nên việc hình thành chế độ sở hữu ruộng đất cho phù hợp lich sử cách mang là cần thiết. Lịch sử hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến Việt nam luôn tồn tại 2 thiết chế về ruộng đất. là sở hữu ruộng công va sở hữu ruộng tư, đó là | đặc thù Việt nam.
Sự tồn tại lâu dài chế độ ruộng công trong sự phát triển của chế độ VN phong kiénw la 1 chế độ tư hữu điển hình. ớt các tén got: làuộng công: - Cong điển, công thổ (đất công làng xã) Sở hữu nhà nước (vua, quan) - Tịch điển - Quan điền, quan trại Sở hữu tư nhân (địa chủ) - Tư điền - Đồn điền - Tam bảo 16 Tư: - Ruộng đất tư Thời kỳ nhà nguyễn - đầu thế ky XIX, có các loại: —. SO hữu Nha nước Phong kiến 2. Sở hữu làng xã 3.
Sở hữu địa chủ 4. So hữu nhỏ tự canh Gọi là sở hữu tư nhân nói chung. Nhận xét ruộng đất trong thời kỳ này về nông dan Việt nam với chế độ ruộng đất :”ruộng đất chia rất nhỏ, những gia đình không có ruộng nhiều, nông dân vo sản, thật nghiệp nhiều. Không có chế độ thuê ruộng đất mà chỉ thấy chế độ cấy rẽ, lĩnh canh với các tá điền (trang 57 - chế độ ruộng đất Việt nam đầu thế ky XIX).
- Thời kỳ trước cách mạng tháng 8, nhà nước thực dân phong kiến Việt nam hình thành 6 hình thức sở hữu chủ yếu về đất đai: - So hữu ruộng đất của thực dân Pháp - Sở hữu của địa chủ THU VIEN | | | TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUÂT HÀ NỘI, - Sở hữu của nhà chung PHÒNGnoc 214 - Sở hữu của chùa, làng - Sở hữu cửa tầng lớp tưsản, tư san nông thôn( địa chủ) - Sở hữu nhỏ của người nông dân - Trong thời kỳ cải cách ruộng đất - Luật cải cách ruộng đất ban hành 4.1953 Nhà nước thừa nhận còn hai hình thức sở hữu chủ yếu về đất đai là: Sở hữu Nhà nước và Sở hữu của người nông dân. - Hiến pháp 1960 (D3) xác định " các hình thức sở hữu TLSX" chủ yếu là: 1. Hình thức sở hữu của Nha nước (tức là Sở hữu toàn dan) 2. Hình thức so hữu của Hop tác xã (tức là sở hữu tap thể của Nhân dân lao động) 3.
Hình thức sở hữu riêng lẻ của người lao động (tức sở hữu tư nhân) 4. Hình thức sở hữu của Nhà tư sản dân tộc (tức sở hữu tư nhân) - Hiến pháp 80 và 92 nói về Sở hữu toàn dân về đất đai ( Điều 19 Hiến pháp 80 và điều 17 hiến pháp 92). Điều 1: "Đất dai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý"(Luật đất đai). * Cơ sở xác lập quyền sở hữu đất đai của nước ta - Học thuyết Mác Lê nin về quốc hữu hóa đất đai chỉ rõ tính giai cấp trong sở hữu ruộng đất dưới xã hội tư bản.
Để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tu sdn - với moi thủ đoạn giai cấp tư sản bảo vệ bằng được lợi ích giai cấp gắn liền với quyền tu 18 hituvé đất dai, nên người lao động không thể trông chờ nghị viện vì những nghị viện là những ông chủ đất - nên giai cấp không thể trông chờ Nhà nước càng không thể trông chờ vào các ông chu của họ. Mác nhận xét: " Sở hữu ruộng đất nguồn gốc đầu tiên của moi của cải đã trở thành vấn đề lớn mà việc giải quyết sẽ quyết định tương lai của giai cấp công nhân"(9-2) Mác - Ăng ghen tuyển tập trang 202 sự thật Hà nội - năm 1970) và Mác khẳng định: - “Các nhà tư bản, các chủ trang trại không bao giờ từ bỏ dor quyền sở hitu’véi đất đai, không chối bỏ địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối”. - “Việc tập trung đất đai, áp dụng hình thức lao động tập thể và ấp dụng những thành tựu khoa học mới trong quá trình canh tác là cần thiết”.Và Mác kết luận: "Chính vì thế sẽ làm cho việc quốc hữu hóa ruộng đất ngày càng trở thành một tất yếu xã hội, mà chống lại nó, mọi lý lẽ về quyền sở hữu đều bất luc" (sách đã dẫn trang 202)(9-3). Lê nin đã khẳng định tính đúng dan trong học thuyết Mác về quốc hữu hóa ruộng đất trong tác phẩm " Sơ khảo để ‹cương và vấn đề ruộng dat".
Lê nin cũng chỉ ra rằng, không phải sau khi Cách mạng 'vô sản giành thắng lợi quốc hữu hóa đất đai là một yêu cầu 19 bắt buộc mà tùy điều kiện hoàn cảnh cụ thể mỗi nước có thể thực hiện ngay hoặc muộn hơn.12/Nội dung pháp lý về quyền sử dụngđất a)Cơ sở xác lập quyền sử dụng đất: Việc dé cao quyền làm chủ của người lao động đã được lý luận Mác - Lê nin đề cập đến việc có để cho người lao động, người nông dân phải tự suy nghĩ trên luống cày của họ hay không? Họ làm cho mình hay chỉ là người làm thuê (thực chất hay hình thức) là quan trong. Có vậy mới huy động được nhân, vật lực cho sản xuất, để tạo ra của cải. Thực tế từ sau 1980 chúng ta quy định chỉ có Nhà nước mới có quyền sở hữu đất đai, còn mọi tổ chức và cá nhân, công dân chỉ là người sử dụng đất. Vai trò của Nhà nước chưa được phát huy, một khái niệm "Ông chủ sở hữu" là Nhà nước có tính chất trìu tượng chung chung, khiến cho người đại diện cho Nhà nước quản lý đất đai (Địa chính - Uy ban Nhân dân các cấp) cứ tưởng rang minh là chủ sở hữu đất đai có mọi quyền cấp, phát, ban ơn đất đai cho các tổ chức và cá nhân.
Vì vậy diéu vô cùng quan trọng là phải xác định cho được người chủ cụ thể của đất đai đó chính là những người trực tiếp thực hiện quyền sử dụng đất.