MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Việt Nam là quốc gia có diện tích đất bãi bồi ven biển khá lớn, được bồi tụ từ hệ thống sông, ngòi dày đặc và phân bố từ Bắc đến Nam. Nhu cầu sử dụng đất của xã hội ngày càng cao trong khi đất đai đang trong tình hạng bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng bởi các nguyên nhân tự nhiên và con người. Trước tác động ngày càng mạnh của biến đổi khí hậu và sử dụng đất thiếu họp lý, tình ừạng xói lở đất bãi bồi trên cả nước nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng ngày càng nghiêm trọng làm diện tích đất bãi bồi dần bị thu hẹp.
Trước đây, do điều kiện dân số chưa đông, kinh tế - xã hội khó khăn, kỹ thuật canh tác hạn chế, kèm theo vấn đề trị thủy không tốt nên đất BBVB ít được quan tâm cả về gốc độ quản lý và sử dụng. Những năm sau này, nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, đất BBVB trở nên có giá trị hơn so với nhiều loại đất do được khai thác, sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, du lịch sinh thái, bến bãi tập kết và sản xuất nguyên - vật liệu xây dựng, tham gia vào vận chuyển đường thủy. Để quản lý và sử dụng đất BBVB hợp lý, hiệu quả, ngoài những quy định chung của Luật đất đai và các Nghị định hướng dẫn thi hành, các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với trách nhiệm của mình đã có các quy định cụ thể: từ năm 2013 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật [1]; căn cứ văn bản chỉ đạo của trung ương, chính quyền các địa phương có đất BBVB cũng đã triển khai thực hiện. Nhìn chung, các hoạt động nêu trên đã tác động và làm cải thiện đáng kể công tác quản lý, sử dụng đất BBVB trong phạm vi cả quốc gia và từng địa phương.
Luan van 2 Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện nay công tác quản lý và sử dụng đất BBVB vẫn đã và đang bộc lộ nhiều bất cập như: Công tác quản lý chưa theo kịp với yêu cầu cuộc sống cũng nhu những diễn biến thực tế ở địa phương; chưa luật hóa đầy đủ các quy định để điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến quản lý, sử dụng đất; còn có những điểm chưa thống nhất về quản lý đất BBVB trong các luật [2]; các cơ chế, chính sách liên quan còn thiếu và chưa toàn diện. Những vấn đề trên đã dẫn đến hệ quả là công tác quản lý chưa chặt chẽ, sử dụng còn lãng phí và kém hiệu quả. Nhiều nơi đất đai bị bỏ hoang, trong khi ở các khu vực khác lại bị khai thác, sử dụng quá mức gây tác động xấu đến môi trường. Nguồn thu ngân sách từ sử dụng đất bãi bồi chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất.
Những hệ quả này không chỉ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của địa phương mà có lúc, có nơi đã ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp sông - biển có hệ sinh thái rất độc đáo và đa dạng về tài nguyên, đồng thời là một hệ đệm, song lại hoàn toàn khác với những hệ đệm khác trong đất liền do phụ thuộc vào thủy chế của dòng sông, hoạt động của thuỷ triều, với đặc điểm độc lập tương đối, đa dạng về nguồn gốc và có tính mẫn cảm đối với các ảnh hưởng môi trường từ thượng nguồn cũng như ảnh hưởng tại chỗ [3]. Hệ sinh thái cửa sông ven biển là một mắt xích quan trọng trong chu trình trao đổi chất khép kín. Bất cứ một tác động nào phá vỡ cấu trúc hệ sinh thái tối ưu của vùng, sử dụng đất đai và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên không hợp lý trên từng điều kiện thành tạo đều dẫn tới hậu quả xấu: giồng cát di động, đất nhiễm mặn và nhanh chóng biến thành hoang hóa, đất glây hóa nặng do úng trũng chua phèn, nước triều và cả lũ sông không lưu thông sẽ gây thoái hóa rừng ngập mặn và giảm sút sản lượng thủy sản.
Do đó phát triển bền vững vừa là mục tiêu hướng tới, vừa là đòi hỏi cấp bách, sống còn đối với lãnh thổ cửa sông ven biển. Phát Luan van 3 triển bền vững ở đây là sự phát triển dựa trên cơ sở đảm bảo cho các tài nguyên tái tạo có điều kiện phục hồi, duy trì sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái, sử dụng hợp lý các tài nguyên không tái tạo, cải thiện được môi trường sống của con người. Tuy nhiên do sức ép của dân số, nhu cầu riêng của từng ngành, địa phương việc khai thác vùng cửa sông ven biển ngày càng được đẩy mạnh nhưng không được nghiên cứu đầy đủ về tiềm năng và định hướng sử dụng bền vững, nhiều nơi khai thác còn bừa bãi, tùy tiện đưa đến những hậu quả sinh thái làm giảm sút nguồn lợi của các đối tượng khai thác có giá trị trong vùng. Vùng ven biển có bờ biển dài, địa hình khá bằng phẳng.
Một số nơi có bãi cát thoải mịn thích hợp với phát triển du lịch nghỉ mát tắm biển như Thịnh Long (Hải Hậu), Quất Lâm (Giao Thuỷ), Rạng Đông (Nghĩa Hưng). Nam Định có 3 sông lớn là sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ. Ngoài ra có sông Đào nối liền sông Hồng và sông Đáy cùng với nhiều sông nhỏ khác giúp cho giao thông đường thuỷ thuận lợi và bồi đắp phù sa, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển các vùng kinh tế biển. Diện tích rừng ngập mặn ở khu vực Cồn Lu, Cồn Ngạn, Cồn Xanh, Cồn Mở và Vườn quốc gia Xuân Thủy đã và đang suy giảm.
Tại Vườn quốc gia Xuân Thủy trong 12 năm trở lại đây, diện tích rừng ngập mặn trưởng thành đã giảm 70%. Đường bờ biển bị sóng biển lấn trung bình 10m/năm. Riêng đoạn từ xã Hải Lý – Hải Triều, tỉnh Hải Hậu hàng năm xói lở 10 – 20 m. Hiện đất bãi bồi ven biển vẫn chủ yếu dùng để nuôi trồng thủy hải sản và khai thác tự nhiên, với diện tích khoảng hơn 5.548 ha, chiếm 41% diện tích bãi bồi.
Việc khai thác và nuôi trồng thủy hải sản đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế, tuy nhiên, vẫn còn manh mún, chưa đảm bảo chất lượng, cũng như chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Riêng đối với ngành nuôi trồng thủy hải sản tại hai huyện ven biển Nghĩa Hưng và Giao Thủy, hiệu quả kinh Luan van 4 tế đem lại rất lớn nếu gặp điều kiện thời tiết thuận lợi, giá cả thị trường ổn định. Nhưng khu vực này thường xuyên chịu ảnh hưởng của những cơn bão xâm nhập mặn, thay đổi môi trường sống của thủy hải sản, dẫn đến năng suất giảm đáng kể, hiệu quả kinh tế không cao. Hệ thống rừng ngập mặn (RNM) tự nhiên của 2 huyện đã tạo ra khu vực ĐDSH cao, có nhiều loài chim di cư quý hiếm tầm cỡ quốc tế có thể phát triển thành khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước, là vùng trọng điểm phát triển rừng, nhất là rừng phòng hộ ven biển.
Diện tích rừng của 2 huyện khoảng 1.213,18 ha, chiếm 8,3% diện tích bãi bồi, trong khi diện tích đất chưa sử dụng khoảng 2.576,53 ha, chiếm 18% diện tích bãi bồi. Đây cũng là một trong số những hệ sinh thái quan trọng nhất trên trái đất được ví như lá phổi xanh của một vùng với các giá trị đặc thù như đa dạng sinh học, phong phú nguồn gen, duy trì hệ sinh thái tự nhiên năng suất cao, điều hòa khí hậu, lọc sạch nước thải, bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử, du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học. Nông, lâm, ngư nghiệp vẫn đóng vai trò chủ yếu trong sự phát triển kinh tế xã hội của vùng, đặc biệt là nuôi trồng và khai thác thủy sản ở vùng bãi bồi ngoài đê, mặt khác nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì bảo vệ môi trường cũng là trọng yếu. Tuy nhiên xu hướng biến động sử dụng đất ở vùng đệm trong những năm qua phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả kinh tế, ít tính đến những tác động môi trường và xã hội ở vùng đệm, việc sử dụng đất hướng tới mục tiêu phục hồi và bền vững ở vùng lõi chưa được như yêu cầu.
Một trong các nguyên nhân đó là do thiếu những nghiên cứu chuyên sâu, thiếu cơ sở khoa học trong sử dụng đất bền vững cho vùng bãi bồi đặc thù này. Tuy nhiên, kinh tế vùng ven biển tỉnh Nam Định chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng, tài nguyên môi trường khai thác chưa hợp lí, môi trường chưa được quan tâm đúng mức. Để góp phần nâng cao giá trị trong sử Luan van 5 dụng đất, từng bước cải thiện đời sống người dân thì việc đánh giá đúng tiềm năng và lợi thế so sánh của đất đai trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết nhằm xác định được hướng bố trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh đạt tiềm năng cao và bền vững là mục tiêu quan trọng. Chính vì vậy, để khắc phục những khó khăn đó và phát huy thế mạnh vùng ven biển việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định” có ý nghĩa thực tiễn và mang tính cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng sử dụng đất bãi bồi ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3.1 Ý nghĩa khoa học Dựa trên nghiên cứu của các nhà khoa học về tiềm năng sử dụng đất bãi bồi ven biển và từ những kết quả nghiên cứu thu thập được từ đó đưa ra những đánh giá khách quan nhất về thực trạng sử dụng đất bãi bồi ven biển và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn tốt nghiệp khi hoàn thành có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương và cho các nghiên cứu khác trong quản lý và sử dụng đất bãi bồi ven biển cũng như trong công tác quy hoạch của địa phương.