phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng: : - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về đất đai 7 Luan van - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang 8 Luan van B. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Một số vấn đề chung về đất đai 1. Khái niệm về đất đai Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống và là địa bàn phân bổ các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới. Trong quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh đều xây dựng trên nền tảng cơ bản là đất đai. Đất đai có một số đặc điểm sau: Đất đai có vị trí cố định: Con ngƣời không thể di chuyển đất đai theo ý muốn, vị trí cố định đã quy định tính chất vật lý, hóa học, sinh thái của đất đai. Tính cố định của vị trí đất đai đã buộc con ngƣời phải sử dụng đất tại chỗ.
Mỗi mảnh đất có đặc điểm khác nhau về tính chất, khả năng sử dụng nên chúng có giá trị riêng. Đất đai có hạn về diện tích: Đất đai do lịch sử tự nhiên hình thành, diện tích có tính bất biến. Hoạt động của con ngƣời có thể cải tạo đƣợc tính chất của đất, cải biến tình trạng đất đai nhƣng không thể làm thay đổi diện tích đất đai theo ý muốn. Do tính hữu hạn về diện tích nên yêu cầu đặt ra là phải sử dụng đất có hiệu quả.
Đất đai có tính lâu bền: Đất đai không bị hao mòn theo thời gian. Trong điều kiện sử dụng và bảo vệ hợp lý, chất lƣợng đất có thể nâng cao không ngừng và giá trị đất đai luôn có xu hƣớng tăng theo thời gian. Đất đai có tính đa dạng, phong phú tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất đai và phù hợp với từng vùng địa lý. Vai trò của đất đai Đất đai có hai vai trò quan trọng: - Đất đai trực tiếp sinh ra của cải, vật chất, là nguồn của cải mà con ngƣời dựa vào để nuôi sống mình, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, không có đất đai thì không thể có sự sống.
- Đất đai phản ánh chủ quyền của quốc gia, là lãnh thổ của quốc gia, không có đất đai, đất nƣớc không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động nào cũng nhƣ không thể có sự tồn tại của xã hội loài ngƣời. Các quan điểm lý luận về đất đai 1. Trong kinh tế học cổ điển * William Petty (1623-1687), ngƣời đặt nền móng cho trƣờng phái Kinh tế chính trị cổ điển ở Anh đã khẳng định: “Lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải xã hội”. Có hai nhân tố tạo ra của cải là đất đai và lao động.
Đất đai có vai trò trực tiếp sinh ra của cải và lao động là điều kiện không thể thiếu để sản xuất ra của cải. Theo ông, thiếu một trong hai yếu tố này sẽ không tồn tại và phát triển xã hội loài ngƣời. * Adam Smith (1723 - 1790) - nhà kinh tế chính trị học và triết gia đạo đức học lớn ngƣời Scotland, là nhân vật mở đƣờng cho phát triển lý luận kinh tế. Trong lý luận về đất đai, Adam Smith có hai luận điểm về khái niệm địa tô: một là, địa tô là khoản khấu trừ thứ nhất vào sản phẩm lao động, hai là, địa tô là khoản tiền trả về việc sử dụng đất đai, phụ thuộc vào mức độ phì nhiêu của đất đai và việc ngƣời nông dân có khả năng trả tiền cho ruộng đất.
Về hình thức địa tô, Adam Smith đã phân biệt hai hình thái của địa tô chênh lệch: + Địa tô chênh lệch I: là địa tô chênh lệch thu đƣợc trên những ruộng đất có độ màu mỡ tự nhiên thuộc loại trung bình và tốt, có vị trí gần thị trƣờng hoặc gần đƣờng giao thông. + Địa tô chênh lệch II: là địa tô chênh lệch thu đƣợc do thâm canh. 10 Luan van * David Ricardo (1772–1823) - một nhà kinh tế học ngƣời Anh, có ảnh hƣởng lớn trong kinh tế học cổ điển, là ngƣời đầu tiên dựa trên cơ sở lý thuyết giá trị lao động để giải thích địa tô. Ông cho rằng do ruộng đất có giới hạn, độ màu mỡ của đất đai giảm sút, năng suất đầu tƣ bất tƣơng xứng, dân số lại tăng nhanh, dẫn đến nạn khan hiếm nông sản, cho nên xã hội phải canh tác tất cả ruộng đất xấu và giá trị nông phẩm là do hao phí trên ruộng đất xấu quyết định.
Nếu kinh doanh trên ruộng đất xấu và trung bình sẽ thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch, phần này phải nộp cho địa chủ dƣới hình thức địa tô. Ông cũng đã phân biệt đƣợc địa tô và tiền tệ: Địa tô là việc trả công cho những khả năng thuần tuý tự nhiên, còn tiền tô bao gồm cả địa tô và lợi nhuận do tƣ bản đầu tƣ vào ruộng đất. Nhìn chung, đất đai trong kinh tế học cổ điển đƣợc coi là một trong các yếu tố sản xuất. Trong kinh tế chính trị Mác-Lênin * Quan điểm của C.
Mác cho rằng, đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tƣ liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cƣ, là nền tảng của tập thể. Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trƣớc con ngƣời và tồn tại ngoài ý muốn của con ngƣời. Đất tồn tại nhƣ một vật thể lịch sử - tự nhiên không phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã hội (Đỗ Thị Lan và Đỗ Anh Tài, 2007). Địa tô xuất hiện từ khi có quyền tƣ hữu ruộng đất và là hình thức bóc lột chủ yếu trong xã hội phong kiến.
Trong xã hội phong kiến, địa tô ban đầu là lao dịch, sau đó là hiện vật và khi kinh tế hàng hóa phát triển thì xuất hiện tô tiền - là khoản tiền mà ngƣời thuê đất phải trả cho ngƣời chủ đất để đƣợc quyền sử dụng ruộng đất trong một khoảng thời gian nhất định. Trong chủ nghĩa tƣ bản, nhà tƣ bản thuê đất của địa chủ - ngƣời sở hữu ruộng đất để kinh doanh. Để đƣợc sử dụng đất của địa chủ trong một thời gian nhất định, nhà tƣ bản phải trả cho chủ đất một khoản tiền nhất định theo hợp đồng. Số tiền trả này đƣợc gọi là địa tô tƣ bản chủ nghĩa.
Đó chính là giá trị kinh tế của quyền sở hữu đất đai của địa chủ. 11 Luan van * Quan điểm của Lênin: Trên cơ sở những nghiên cứu của Mác, Lênin đã kế thừa và phát huy luận điểm về quốc hữu hóa ruộng đất và chỉ rõ mối liên hệ của địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối với hai hình thức độc quyền trong nông nghiệp. Theo Lênin, địa tô chênh lệch là kết quả của sự hạn chế về ruộng đất. Trong chế độ tƣ bản, việc canh tác ruộng đất của các doanh nghiệp tƣ bản đều có địa tô chênh lệch.
Địa tô tuyệt đối diễn ra bắt nguồn từ chế độ sở hữu ruộng đất tƣ nhân. Chế độ tƣ hữu này đã cản trở việc cạnh tranh tự do, cản trở việc san bằng lợi nhuận thành lợi nhuận bình quân giữa các doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp phi nông nghiệp. Chế độ sở hữu ruộng đất tƣ nhân là sự trở ngại của việc đầu tƣ tự do tƣ bản vào ruộng đất. Lênin cho rằng quốc hữu hóa ruộng đất trong xã hội tƣ bản chủ nghĩa chia thành hai phần khác nhau về bản chất: vấn đề địa tô chênh lệch và vấn đề địa tô tuyệt đối.
Quốc hữu hóa thay đổi ngƣời hƣởng địa tô chênh lệch và xóa bỏ ngay cả sự tồn tại của địa tô tuyệt đối. Vậy quốc hữu hóa một mặt là thay đổi ngƣời làm chủ một bộ phận giá trị thặng dƣ, mặt khác là sự xóa bỏ các độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản. Ông chỉ rõ, thủ tiêu chế độ tƣ hữu ruộng đất tức là xóa bỏ đến mức tối đa tất cả những trở ngại, ngăn cản việc tự do dùng tƣ bản vào nông nghiệp và tự do chuyển tƣ bản từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác (Nguyễn Đình Kháng, 2003). Theo tư tưởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ vấn đề ruộng đất, nông dân, nông nghiệp đã đƣợc Hồ Chí Minh đặt ở vị trí trung tâm và đã giải quyết những vấn đề đó một cách tài tình. Với khẩu hiệu “Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo” Đảng ta đã tập hợp đƣợc lực lƣợng, huy động đƣợc những nguồn lực to lớn về con ngƣời, của cải vật chất đảm bảo cho sự thành công mà đất nƣớc đã giành đƣợc. Khi Miền Bắc giành đƣợc độc lập, nƣớc ta thực hiện cải cách ruộng đất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân cùng với hợp tác hóa 12 Luan van nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp có bƣớc phát triển vƣợt bậc. Bên cạnh việc khai hoang, phục hóa, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả đất đai, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến lợi ích của nông dân, đều này thể hiện rõ nét qua các chính sách giảm tô, trƣng mua ruộng đất, giảm thuế nông nghiệp (Nguyễn Đình Kháng, 2003).
Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà nƣớc về đất đai Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của ngƣời quản lý (Học viện hành chính quốc gia, 2000). Có 3 hình thức quản lý là quản lý tƣ nhân, quản lý tập thể và quản lý nhà nƣớc.