Chương 1: Một số van đề lý luận về van dé bảo hộ sáng chế đối với vaccine và pháp luật vê cân bang bảo hộ sáng chê đôi với vaccine và sức khoẻ cộng đông. 7 Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế về cân bằng bảo hộ sáng chế đối với vaccine và sức khoẻ cộng đồng. Chương 3: Cân bằng bảo hộ sáng chế đối với vaccine và sức khoẻ cộng đồng trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số kiến nghị. 8 NOI DUNG CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VE VAN DE BAO HO SANG CHE DOI VOI VACCINE VA PHAP LUAT VE CAN BANG BAO HO SANG CHE DOI VOI VACCINE VA SUC KHOE CONG DONG 1.
Khái niệm về van đề bảo hộ sáng chế đối với vaccine 1. Khái niệm sáng chế và sáng chế liên quan đến vaccine 1. Khái niệm sang chế Pháp luật SHTT ra đời đã tạo ra một nên tảng vô cùng quan trọng cho sự bảo vệ đối với các thành quả lao động sáng tạo của con người, một trong những đối tượng rất dé bị xâm phạm, lợi dụng bởi những đối tượng xấu, có thé kế đến như các loại dược phẩm, sản phẩm mới, các loại máy móc, quy trình. Trong số đó, sáng chế có lẽ là một trong những khái niệm được nêu nhiều nhất khi nhắc đến thành quả lao động của con người.
Đồng thời, sáng chế cũng là một trong những đối tượng được quan tâm nhất trong lĩnh vực SHTT và là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đây sự phát triển và sáng tạo không giới hạn trên mọi lĩnh vực của các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung. Trong bối cảnh đó, mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định riêng về bảo vệ sáng chế và các chế tài liên quan đến xâm phạm đối với sáng ché. Theo định nghĩa của Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO), “sáng chế là một độc quyén được cấp cho một giải pháp/phát hiện là sản phẩm hoặc quy trình, tạo ra một cách thức mới dé thực hiện một điều gi đó hoặc dua ra một giải pháp kỹ thuật mới cho một vấn đề. ”! Như vậy, WIPO tập trung nhân mạnh tinh chất độc quyền và tính mới thuộc về sản phẩm, quy trình hay cách thức mới được tác giả đưa ra khi đề cập đến định nghĩa sang ché, đồng thời nhằm thực hiện một điều gì đó hoặc đưa ra một giải pháp kỹ thuật mới cho một vấn đề thực tiễn.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, sáng chế được hiểu là “giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thé giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dung trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội”. Doi với định nghĩa này, sáng chế cũng được nhân mạnh về tính mới, tuy nhiên việc yêu cầu trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng trên thực tế cũng rất được quan tâm. Điều này có lẽ hoàn toàn thuyết phục, bởi một sáng chế khi ra đời, dù mang tính mới và được hình thành qua quá trình lao động sáng tạo của nhà sáng chế, tuy nhiên nếu không thé áp dụng được nhăm phục vu đời sống thực tiễn thì sáng ! World Intellectual Property Organization (WIPO), Innovation and Intellectual Property, link truy cập: https://www.int/ip-outreach/en/ipday/2017/innovation and intellectual property. 9 chế này cũng khó có thể phát huy được vai trò của mình là một giải pháp kỹ thuật mới, phục vụ lĩnh vực kinh tế-xã hội.! Theo Luật SHTT Việt Nam năm 2005, định nghĩa sáng chế được quy định tại khoản 2 Điều 4 như sau: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn dé xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên ”.
Cụ thể, khái niệm này dé cao vai trò của sáng chế qua việc giải quyết hiệu quả những van đề nhất định, có liên quan bang viéc ung dung cac quy luat tu nhién. Viéc dinh hinh rõ sáng chế được tồn tại dưới dạng sản pham hoặc quy trình cũng đã định hướng rõ được hình thức sản phẩm trong quá trình nghiên cứu, sáng tạo ra sáng chế của những nhà sáng chế.? Nhìn chung, những định nghĩa trên đều có một điểm tương đồng đó là đều đề cập đến tính mới và khả năng ứng dụng của sáng chế. Những khái niệm trên đều chú trọng đến việc định hướng sáng chế mang sự tiễn bộ, mang tính phát triển, tính mới và có thể ứng dung cao vào đời sông, mang lại lợi ich cho cộng đồng, xã hội. Nhìn chung, có thé thấy bản chất của sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình, sáng chế ra đời nhằm giải quyết những van đề nhất định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Khải niệm sáng chế liên quan đến vaccine Trong ba năm trở lại đây, cả thế giới đã và đang đôi mặt với một trong những đại dịch nguy hiểm nhất lịch sử, đại dịch Covid-19. Không chỉ dừng lại ở thiệt hại nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu, an sinh xã hội trên toàn thế giới, Covid-19 đã cướp đi sinh mang của hàng triệu người khắp thé giới, với những ca mắc liên tục xuất hiện ở hau hết tất cả các quốc gia. Một đại dịch tàn khốc với khả năng lây lan nhanh chóng, khó lường đã khiến mọi hoạt động trên toàn bộ các lĩnh vực đều chậm lại, gây thiệt hại vô cùng lớn cho xã hội. Hơn hai năm trôi qua, khi những ảnh hưởng do đại dịch ngày cảng nghiêm trọng, những biện pháp khắc phục, phòng chống dịch bệnh nói riêng và khôi phục nên kinh tế, xã hội ôn định nói chung càng trở thành một van đề cấp thiết.
Thực tế cho thấy, thé giới đã thực sự có những hành động hiệu quả dé phòng chống lại dich bệnh, với nhiều cách thức khác nhau trên nhiều lĩnh vực. Điền hình nhất có thé thấy Sự ra đời của nhiều loại vaccine phòng chống Covid-19, một biện pháp dường như hiệu quả nhất, và thiết thực nhất cho con người trong bối cảnh đại dịch đang hoành hành với ngày càng nhiêu biên chủng mới. | Từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Từ điền bách khoa, Hà Nội, 2003. 2 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005.
10 Vaccine là chế phẩm có tính kháng nguyên có nguồn gốc từ vi sinh vật gây bệnh hoặc vi sinh vật có cau trúc kháng nguyên giống vi sinh vật gây bệnh, đã được bào chế đảm bảo độ an toàn cần thiết, làm cho cơ thê tự tạo ra tình trạng miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh.! Vaccine chứa các phiên bản suy yêu của virus hay phiên bản gần giống như virus (được gọi là kháng nguyên). Điều này chứng tỏ các kháng nguyên không thê tạo ra các dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh, nhưng chúng kích thích hệ thong mién dich tạo ra các kháng thé. Những kháng thé này sẽ bảo vệ cơ thé khi tiếp xúc với các virus trong tương lai.” Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Luật được Việt Nam năm 20163, được pham bao gom thuốc, là chế pham có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chân đoán bệnh, chữa bệnh, bao gồm thuốc dược liệu, vaccine và sinh phẩm. Như vậy, vaccine có thé được hiểu là một chế phẩm sinh học cung cấp khả năng miễn dich thu được chủ động đối với một bệnh truyền nhiễm cụ thé.
Tuy vậy, tính đến nay, vẫn chưa có bat kỳ quy định cụ thé nào về khái niệm sáng chế liên quan đến vaccine trong các văn bản pháp luật hay các tài liệu nghiên cứu khác ở cả phạm vi trong nước và quốc tế. Từ những định nghĩa sáng chế và định nghĩa vaccine nêu trên, theo quan điểm của nhóm, có thé định nghĩa về sáng chế vaccine như sau: “Sáng chế vaccine là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chan đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh ly cho con người bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên ”. Sáng chễ vaccine là giải pháp kỹ thuật có thê tồn tại dưới dạng sản phẩm (dung dịch vaccine.) hoặc có thể là giải pháp kỹ thuật dưới dang quy trình (quy trình điều chế vaccine.) nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chan đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cho con người. Với đặc thù là một chế phẩm sinh học nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chân đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cho con người, sáng chế liên quan đến vaccine có những đặc điểm riêng biệt, khác với những sáng chế thông thường như sáng chế kỹ thuật, khoa học công nghệ khác như sau: Thứ nhái, sảng chế vaccine liên quan đến một doi tượng đặc biệt, là tính mạng, sức khỏe con người.
Voi vai trò quan trọng trong đảm bảo sức khỏe va tính mạng của con người, sự ra đời của những loại vaccine đối với mỗi loại bệnh cụ thê đã đem lại rất nhiều cơ hội phục hồi sức khỏe, phòng chống dịch bệnh cho cộng đồng. Khác với những ' Definition of vaccine, Marriam-Webster Dictionary. ? European Vaccination Information Portal, How vaccines work, 2021. 3 Luật dược Việt Nam năm 2016.
I1 sang chế thuộc lĩnh vực khác mang lại sự tiện nghi, hữu ích cho đời sống vật chat, tinh thần con người, sáng chế liên quan đến vaccine không chi giúp phòng bệnh, chữa bệnh mà một số còn góp phan nâng cao sức khỏe, sức đề kháng của con người, kéo dài tuổi thọ. Thứ hai, sáng chế liên quan đến vaccine thường có tuổi thọ tôn tại khá đài so với những sáng chế thuộc lĩnh vực khác.! Xã hội càng phát triển bao nhiêu thì công nghệ, những sáng chế và phát minh mới ngày càng xuất hiện nhiều hơn, kéo theo sự đào thải khắc nghiệt của những sáng chế mới so với những sáng chế cũ. Những công nghệ, máy móc cũ sẽ được thay thế rất nhanh bởi những giải pháp kỹ thuật, phát minh mới hiện đại hơn, tiện nghi hơn, vi thế mà tuổi thọ của những sáng chế ay trở nên khá ngắn, dần dần bị thay thế. Nhưng đối với sảng chế vaccine thì ngược lại, có rất nhiều hoạt chat, chủng loại vaccine được bảo hộ, ra đời từ rất lâu song đến nay vẫn được sử dụng một cách rộng rãi trên toàn thé giới bởi hàng ngàn thé hệ con người.
Điển hình có thé kế đến đến chủng loại vaccine uốn ván, được phát triển vào năm 1924, chính thức có mặt tại Hoa Kỳ vào năm 1940, một loại vaccine vô hoạt được sử dụng dé ngăn ngừa bệnh uốn ván. Ngày nay, dù đã gần một thế kỷ trôi qua, loại vaccine này vẫn được sử dụng rộng rãi hầu như trên toàn thế giới, hiệu quả của loại vaccine này vẫn luôn được đề cao, cùng với tính an toàn được ghi nhận rộng rãi.