Chương I: Những vấn đề chung về trị giá hải quan Chương II: Xác định tri giá hai quan theo Hiệp định trị giá GATT 1994 so sánh với pháp luật Việt Nam Chương III: Thực trạng xác định trị giá hai quan ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này CHUONG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE TRI GIÁ HAI QUAN 1.1 Khái niệm tri giá hai quan 1.1 Dinh nghĩa Xét về mặt lịch sử, thuế quan là một loại thuế có nguồn gốc từ lâu. Thời Tây Chu của Trung Quốc đã có ghi chép từ “quan”. Từ sau thời Xuân Thu, các nước chư hầu thu thuế hàng hoá qua lại ở biên giới và trạm thu thuế nội địa, gọi là “quan thị chi trương” (thu thuế chợ và cửa khẩu). Thời Hy lap và La mã cổ đại, những người lái buôn thường lang thang từ nơi này sang nơi khác, từ phiên chợ này sang phiên chợ khác, từ lãnh địa này sang lãnh địa khác, và một thực tế là thuế thường đánh vào những người mang hàng đi bán, đánh vào hàng hoá của họ khi phải đi ngang qua những thái ấp, những cái cầu nào đó, khi họ chở hàng hoá từ nơi này sang nơi khác trong một phiên chợ, khi họ dựng một cái lều hoặc một cái sạp để bán hàng.
Ở La mã, loại thuế này được gọi là “portoriun” và ở Anh thường gọi là thuế qua cầu, thuế đi ngang qua đất riêng. Sau này, các lãnh chúa phong kiến nước Anh gọi loại thuế thu của các lái buôn vào chợ là Sustomary Tolls, về sau chuyển thành Customs Dueties. Và khi những người lái buôn đó mang hàng hoá từ nước này sang nước khác, từ lãnh địa này sang lãnh địa khác, họ phải nộp cho những nhà vua hay các lãnh chúa đó một khoản tiền nhất định nhằm được đảm bảo an toàn, tránh cảnh bị cướp bóc vốn vẫn xảy ra thường xuyên vào thời đó. Có thể nói, khoản thuế đặc biệt này chính là tiền thân của thuế hải quan sau này.
Thuế quan là loại thuế gián thu đánh vào hàng hoá khi chúng di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác. Một thời gian dài, thuế thu ở các trạm thu thuế nội địa và trạm thu thuế ở biên giới đều gọi là thuế quan. Sau khi giai cấp tư sản Anh giành được chính quyền bằng cuộc cách mạng khoảng giữa thé ky XVII, việc đầu tiên mà họ làm là xoá bỏ thuế quan nội địa và trạm thu thuế nội địa, thực hiện chế độ hải quan biên giới quốc gia, thống nhất thu thuế quan biên giới quốc gia ở biên giới. Các quốc gia cận đại lần lượt học theo, phát triển thành hải quan của các nước hiện đại (hải quan của một số quốc gia đổi từ “quan cảnh” thành “quốc cảnh”).
Năm thứ 24 đời Khang Hy triều Thanh của Trung Quốc đã chính thức xây dựng 4 trạm hải quan là Giang, Triết, Mân, Việt ở bốn bến cảng vùng ven sông [31, tr. Có thể nói, mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế quan đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá với bên ngoài và bảo hộ nền sản xuất trong nước. Khái niệm trị giá hải quan (TGHQ) được hình thành khi người ta bắt đầu chuyển dần việc đánh thuế cụ thể theo lượng hàng hoá sang đánh thuế theo giá trị hàng hoá. Khái nệm TGHQ đã được quy định trong các điều ước quốc tế va trong pháp luật quốc gia.
Trong điều ước quốc tế, trị giá được chính thức sử dụng trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Tarifs And Trade - GATT). Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ dừng lại ở mức độ của những nguyên tắc chung nên không đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn. Năm 1947, nhóm nghiên cứu TGHQ đã được thành lập tai Brussels với nhiệm vụ là phải dự thảo được một định nghĩa về TGHQ trên cơ sở các nguyên tắc của Điều VI Hiệp định GATT. Định nghĩa Brussels ra đời vào năm 1951 và có hiệu lực từ 23/7/1953.
Theo định nghĩa này thì “TGHQ đối với hàng hoá nhập khẩu là giá thông thường, tức là giá đó phù hợp với hàng hoá tại thời điển nhập khẩu mà hải quan thực hiện việc thu thuế đối với việc mua, bán hàng hoá được thực hiện trong điêu kiện cạnh tranh lành mạnh và giữa người mua với người bán hoàn toàn độc lập với nhaw. Dinh nghĩa này lấy khái niệm giá trừu tượng làm cơ sở. Lấy “giá bình thường” làm giá tính thuế hàng nhập để bảo vệ lợi ích chính đáng của người nhập, tránh cạnh tranh không công bằng, quản lý võ đoán, trốn tránh sự giám sát, đồng thời phù hợp với thực tế mậu dịch quốc tế và thuận tiện cho quản lý. Tuy nhiên, việc đưa ra khái niệm “TGHQ của hàng nhập khẩu là mức giá thông thường mà hàng hoá sẽ được bán” - đã thể hiện sự mơ hồ, trừu tượng, thậm chí có thể được xác định ngay cả trong trường hợp trên thực tế không diễn ra giao dịch đó [20, tr.
Chính vì vậy, trong quá trình áp dụng, các nước đã đưa ra các cách xác định riêng làm mất đi tính thống nhất và xuất hiện sự can thiệp quá mức cần thiết của các cơ quan quản lý vào quá trình xác định TGHQ. Trên thực tế, Mỹ, Canada đã không sử dụng làm cho nó bị hạn chế về khu vực. Dần dân, chế độ này bị thay thế bởi chế độ xác định TGHQ theo trị giá giao dịch (xác định TGHQ theo GATT). Do đòi hỏi cấp thiết của tình hình thực tế, ngày 12/4/1989 tại Geneva - Thuy sĩ, các nước đã tham gia ký kết “Hiệp định về thực thi Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại” (gọi tắt là Hiệp định trị giá, viết tắt là CVA) và phê chuẩn Nghị định thư về thực hiện Hiệp định này.
Hiệp định trị giá đã đưa ra một định nghĩa day đủ và hoàn chỉnh về TGHQ như sau: “tri giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu là trị giá giao địch, đó là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho những hàng hoá được bán theo nghiệp vụ xuất khẩu cho nước nhập khẩu. Khác với định nghĩa Brussels về TGHQ, định nghĩa TGHQ của Hiệp định trị giá được xây dựng trên cơ sở khái niệm thực định, tức là TGHQ của hàng hoá nhập khẩu là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho những hàng hoá được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu. Hiệp định nhấn mạnh rằng, việc xác định TGHQ phải dựa vào trị giá của chính lô hàng dang được xác định trị giá và có tính đến các chi phí liên quan đến giao dịch bán để xuất khẩu lô hàng này, chứ không phải dựa vào giá thông thường của hàng hoá đó như định nghĩa Brussels nêu ra. Khái niệm TGHQ còn được quy định trong Điều ước quốc tế song phương, ví dụ, Điều 3 khoản 4 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ [11].
Pháp luật của nhiều quốc gia cũng quy định về khái niệm này. Theo pháp luật của Indonesia thì khái niệm TGHQ được quy định cụ thể tại Điều 15 Luật hải quan Indonesia năm 1995, theo đó, nội dung của quy định này hoàn toàn hướng dẫn thứ tự áp dụng các phương pháp xác định TGHQ như quy định của Hiệp định trị giá [24, tr. Ở Trung Quốc, TGHQ được quy định trong Luật hai quan năm 1987, sửa đổi bổ sung vào năm 2001 về TGHQ tại Điều 55 như sau: “Giá tinh thuế đối với hang hoá xuất nhập khẩu do hải quan kiểm tra, xác định trên cơ sở giá hợp đồng của hàng hoá đó. Khi giá hợp đông không thể xác định được thì giá tính thuế do hải quan xác định theo quy định” [24, tr.
Ở Việt Nam, TGHQ được quy định trong nhiều văn bản pháp luật. Chẳng hạn trong Điều 9 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 của Việt Nam quy định: “Giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập dầu tiên theo hợp đông phù hợp với cam kết quốc tế” [29]. Hay trong Điều 7 khoản 1 Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ quy định về việc xác định TGHQ đối với hang hoá xuất khẩu, nhập khẩu (sau đây gọi tắt là Nghị định 40/2007/NĐ-CP) cũng quy định: “trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu là trị giá giao dich” [10]. Từ những phân tích và những khái niệm ở trên, có thể hiểu thống nhất về TGHQ như sau: tri giá hải quan là trị giá của hang hoá xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích tính thuế và quản lý nhà nước về hải quan.
TGHQ bao gồm TGHQ của hàng hoá xuất khẩu và TGHQ của hàng hoá nhập khẩu. TGHQ của hàng hoá xuất khẩu là giá bán hàng hoá tại cửa khẩu xuất, theo hợp đồng mua bán, không bao gồm các chi phí vận chuyển (F) và bảo hiểm (I) quốc tế. Còn TGHQ của hang hoá nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 6 phương pháp xác định trị giá theo Hiệp định trị giá và dừng lại ngay ở phương pháp đã xác định được trị giá. TGHQ được xác định cho tất cả các loại hàng hoá do các tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu không phân biệt có hợp đồng hay không có hợp đồng, nhằm mục đích thương mại hay không nhằm mục đích thương mại, hoạt động kinh doanh đầu tư hay sản xuất xuất khẩu.
Mục đích cơ bản của việc xác định trị giá là nhằm tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đi vào nghiên cứu TGHQ nhằm mục đích tính thuế mà thôi.2 Ý nghĩa của việc xác định trị giá hải quan TGHQ là trị giá của hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được xác định theo mục đích tính thuế và quản lý nhà nước của ngành hải quan. Việc xác định đúng TGHQ không chi có quan hệ trực tiếp tới nguồn thu ngân sách, tới chính sách bảo vệ sản xuất nội địa mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ thương mại, ngoại giao giữa các nước. Ý nghĩa lớn nhất của việc xác định trị giá hải quan là phục vụ cho việc thu thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu.
Do đó, vai trò của nó được thể hiện thông qua những loại thuế này.