Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh - Giai đoạn 2014-2018. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1.
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái niệm hàng hóa xuất nhập khẩu Theo điều 4 Luật Hải quan năm 2014 quy định thì hàng hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan. Xuất nhập khẩu (XNK): hiện nay ở nước ta có nhiều khái niệm khác nhau. Song xét về đặc trưng thì XNK được định nghĩa là việc mua, bán hàng hóa qua biên giới quốc gia.
Tức là vai trò của nó như chiếc cầu nối giữa cung, cầu hàng hóa của thị trường trong và ngoài nước về số lượng, chất lượng và thời gian sản xuất. (ví dụ : lao động và vốn), nhất là XNK trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế. Các nhà kinh tế học còn dùng định nghĩa XNK như là một công nghệ khác để sản xuất hàng hóa (thậm chí cả các yếu tố sản xuất). Như vậy, XNK được hiểu như là một quá trình sản xuất gián tiếp.
Xuất nhập khẩu là một trong những ngành giúp lưu thông hàng hóa, tạo mối quan hệ với các nước khác cũng như mở rộng thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển và vững mạnh hơn. Với các quốc gia đang phát triển, thì xuất nhập khẩu là trong những khâu cơ bản của hoạt động thương mại, giúp liên kết chặt chẽ các nền kinh tế giữa các quốc gia với nhau. Ngoài ra, xuất nhập khẩu còn giúp đáp ứng về nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng trong nước, và giúp các doanh nghiệp đưa sản phẩm của mình ra thị trường quốc tế. 9 Hàng hóa xuất nhập khẩu: bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan.
Hoạt động xuất nhập khẩu cũng nằm trong những đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước về kinh tế. Hoạt động xuất nhập khẩu, bên cạnh những đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế thì vẫn còn có nhiều tồn tại (những khuyết tật, những mặt trái vốn có của nó) mà các cơ quan chức năng của nhà nước (trong đó có Hải quan và thuế vụ, ngành tài chính, cơ quan quản lý thị trường.) cần phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ và hiệu quả. Những mặt còn tồn tại này đòi hỏi các cơ quan quản lý, nhất là lực lượng Hải quan phải hiểu rõ để chủ động ngăn ngừa, hạn chế. Ví như, do có cạnh trạnh nên dễ dẫn đến tranh mua, tranh bán lộn xộn; các tệ nạn như buôn lậu, trốn thuế, khai sai xuất xứ để có lợi cho giá thành sản phẩm.
dẫn đến thất thoát lớn là rất có chiều hướng xảy ra. Vì vậy, Hải quan nói riêng và các cơ quan quản lý nói chung cần phát huy chức năng kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ kịp thời đảm bảo việc xuất nhập khẩu theo đúng pháp luật; và từ diễn biến thực tế, nhà nước không ngừng bổ sung, hoàn thiện luật pháp về xuất nhập khẩu. Công tác xuất - nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài để phát triển sản xuất thương mại, từ đó góp phần nâng cao đời sống nhân dân; nhưng do có yếu tố nước ngoài nên có nhiều nét khác với nội thương. Nó rất đa dạng, phức tạp do có giao dịch với các doanh nhân và người có quốc tịch khác nhau, trong một thị trường rộng lớn, khó kiểm soát; việc mua bán qua trung gian chiếm tỉ trọng lớn; đồng tiền thanh toán là ngoại tệ.
Chính tại những nơi đó, ngoài những chủ thể hàng hoá tuân thủ pháp luật còn có những chủ thể có những hành vi buôn lậu, trốn thuế. với những thủ đoạn tinh vi. Vì vậy ở nước ta cũng như bất kỳ quốc gia nào, Hải quan có vị trí vô cùng quan trọng trong lĩnh vực quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu. Các loại hàng hóa xuất nhập khẩu.
Theo Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27 tháng 06 năm 2017 của Bộ Tài chính qui định danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam. Danh mục này được dùng để xây dựng các Biểu thuế áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; xây dựng các Danh mục hàng hóa phục vụ quản lý nhà nước theo quy định của Chính phủ và quy định tại Khoản 4 Điều 26 Luật Hải quan; thống kê Nhà nước về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; phục vụ công tác quản lý nhà nước về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các lĩnh vực khác. Ngoài ra, Thông tư cũng ban hành 06 quy tắc tổng quát giải thích việc phân loại hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam dựa trên Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá của Tổ chức Hải quan thế giới. Tại Nghị định số 08/2015/NĐ-CP quy định hàng hóa xuất nhập khẩu được cho phép theo qui định hay được biết dưới loại hàng hóa trong danh mục xuất nhập khẩu: là các hàng hóa theo mục đích thương mại hoặc phi thương mại nằm trong danh mục được phép xuất hoặc nhập khẩu được chính phủ của quốc gia đó ban hành.
Hàng hóa trong danh mục cấm xuất khẩu và cấm nhập khẩu là các loại hàng hóa đặc biệt vì các yếu tố ảnh hưởng đến chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa, xã hội, tài nguyên môi trường mà quốc gia đó không cho phép các tổ chức, cá nhân xuất khẩu ra nước ngoài hay nhập khẩu vào trong nước theo pháp luật qui định. Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu ban hành kèm theo Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ và được thể hiện chi tiết tại phụ lục 01, phụ lục 02 của luận văn này. Ý nghĩa, vai trò của hàng hóa xuất nhập khẩu.1 Ý nghĩa, vai trò của hàng hóa xuất khẩu 11 Xuất khẩu hàng hóa là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của một qúa trình tái sản xuất hàng hoá mở rộng, mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nước này với nước khác. Hoạt động đó không chỉ diễn ra giữa các cá thể riêng biệt , mà là có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự điều hành của nhà nước.
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Xuất khẩu hàng hoá có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội của một nước phát triển như thế nào phụ thuộc rất lớn vào hoạt động xuất khẩu. Thông qua xuất khẩu có thể làm gia tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, kích thích đổi mới công nghệ, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống của người dân.
Đối với những nước có trình độ kinh tế còn thấp như nước ta, những nhân tố tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động, còn những yếu tố thiếu hụt như vốn, thị trường và khả năng quản lý. Chiến lược hướng về xuất khẩu thực chất là giải pháp mở của nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên dể tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách với nước giàu. Do đó xuất khẩu có một vai trò vô cùng quan trọng là: (1) Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. (2) Xuất khẩu hàng hóa thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
(3) Xuất khẩu có vai trò tích cực đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất. (4) Xuất khẩu hàng hóa có tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân của nước xuất khẩu. (5) Xuất khẩu hàng hóa còn là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Ý nghĩa, vai trò của hàng hóa nhập khẩu 12 Xuất khẩu và nhập khẩu là hai lĩnh vực của hoạt động ngoại thương.
Với chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu không có nghĩa là không quan tâm đến nhập khẩu. Thứ nhất, Nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam hiện nay giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, đối với đời sống xã hội và đặc biệt là nhập khẩu góp phần không nhỏ vào sự phát triển của xuất khẩu, tạo điều kiện cho xuất khẩu phát triển. Đối với Việt Nam, trình độ sản xuất còn hạn chế trong việc sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu của con người thì việc nhập khẩu chính là việc đem lại cho Việt Nam một lượng hàng hóa tiêu thụ trong nước mà Việt Nam chưa thể sản xuất được. Việc nhập khẩu máy móc, các trang thiết bị sản xuất hiện đại vào Việt Nam, sẽ giúp Việt Nam cải tiến kỹ thuật, áp dụng các công nghệ mới trong quá trình sản xuất của mình.
Điểm căn bản trong nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam hiện nay chính là để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu phát triển theo những chiến lược mà Đảng và nhà nước ta đã đề ra. Thứ hai, Xuất khẩu không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ phát triển kinh tế, mà nó còn cùng với hoạt động nhập khẩu như là yếu tố bên trong trực tiếp tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế như: vốn, lao động, kỹ thuật, nguồn tiêu thụ, thị trường,…. Đối với nước ta, hướng mạnh về xuất khẩu là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế đối ngoại, được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước, qua đó có thể tranh thủ đón bắt thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển của Việt nam so với thế giới.