Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển khu kinh tế cửa khẩu. Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai. Chương 3: Giải pháp phát triển khu khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai đến năm 2025. 4 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 1.
Khái niệm, vai trò, đặc điểm khu kinh tế cửa khẩu 1. Khu kinh tế và phân loại khu kinh tế Khu kinh tế, theo Nghị định Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định. Theo Nghị định trên, một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10 ngàn hecta (100 km²), có vị trí địa lý thuận lại cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Do điều kiện thành lập như vậy, tất cả các khu kinh tế hiện nay của Việt Nam đều ở ven biển.
Việc hình thành KKT đã làm phong phú thêm tính đa dạng hóa của các loại hình khu kinh tế: (1) Khu tự do mậu dịch: Những khu vực nhỏ được rào chắn hay cách ly và miễn thuế, thường nằm tại các cửa khẩu. (2) Khu chế xuất: KCN cung cấp các ưu đãi và tiện ích đặc biệt cho sản xuất và các hoạt động liên quan nhằm mục tiêu chủ yếu là thị trường xuất khẩu. (3) Đặc khu kinh tế: Bao hàm nhiều loại hoạt động kinh doanh; cho phép người dân sinh sống trong khu vực và cung cấp các chính sách khuyến khích và ưu đãi rộng lớn hơn. (4) Khu chuyên dụng: Chỉ hướng đến các lĩnh vực hoặc hoạt động kinh tế nhất định như các khu KHCN, khu hóa dầu, khu hậu cần.
(5) Khu đơn xưởng: Cung cấp các khuyến khích và ưu đãi cho từng doanh nghiệp chứ không quan tâm đến địa điểm. 5 Luan van (6) Khu doanh nghiệp: Dự định làm tái sinh lại các khu vực thành thị hoặc nông thôn nghèo nàn thông qua cung cấp các khuyến khích về thuế và trợ cấp tài chính. Khu kinh tế cửa khẩu Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về Khu KTCK: Cửa khẩu là nơi người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa ra – vào qua biên giới đất liền. Cùng với quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, theo đó là sự gia tăng các hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch qua cửa khẩu giữa nước ta với các nước có chung biên giới.
Thuật ngữ Khu KTCK biên giới được dùng ngày càng nhiều trong các văn kiện của cơ quan quản lý Nhà nước, xuất hiện nhiều trên các sách, báo và các cuộc hội thảo trong thời gian gần đây. Đã có một số nghiên cứu có tính chất chuyên đề như hoạt động thương mại ở Khu KTCK biên giới, thu hút đầu tư, hay là phát triển các dịch vụ trong Khu KTCK biên giới… Xung quanh các nghiên cứu về Khu KTCK biên giới, có thực tế là cùng đối tượng nghiên cứu nhưng do mục đích nghiên cứu mỗi chuyên đề không giống nhau, do đó có những cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu khác nhau. Chính vì lẽ đó mà tồn tại những quan niệm không đồng nhất với nhau về Khu KTCK biên giới. Nhận thức về Khu KTCK biên giới còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, nhưng tập chung lại hiện nay tồn tại hai nhóm quan niệm từ hai cách tiếp cận xem xét Khu KTCK đó là: Từ góc độ quản lý Nhà nước về kinh tế đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong đề án quy hoạch phát triển Khu KTCK Việt Nam đến năm 2020 cho rằng: “Khu kinh tế cửa khẩu là loại hình khu kinh tế, bằng giao lưu kinh tế qua cửa khẩu (cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính) làm nòng cốt, có ranh giới xác định, được thành lập bởi cấp có thẩm quyền, có cơ chế hoạt động riêng, mô hình quản lý riêng và có quan hệ chặt chẽ với khu vực xung quanh và nội địa phía sau. 6 Luan van Từ góc độ nghiên cứu khoa học, đề xuất các biện pháp, giải pháp và kiến nghị với chính phủ, các cấp chính quyền nhằm phát triển các Khu KTCK ở nước ta. Ý kiến này cho rằng: “Khu KTCK là một không gian kinh tế, gắn với cửa khẩu, có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống và được thực hiện dựa trên cơ chế chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm ở đó nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế xã hội. Song, về nhận thức đối với K hu KTCK, dù được nhìn nhận dưới góc độ nào thì đều thống nhất ở nội dung cơ bản.
Có thể xem đây là những hạt nhân hợp lý để phát triển trong khái niệm Khu KTCK đó là: Khu KTCK, xác định một không gian kinh tế, tại địa điểm là các cửa khẩu biên giới diễn ra các hoạt động kinh tế có quan hệ với quốc gia có cùng chung biên giới và nội địa phía sau. Như vậy, từ góc độ địa kinh tế Khu KTCK được xem như là trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế và là động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại. Những khái niệm về KKTCK còn có sự khác biệt ở điểm này hay điểm khác, tuy nhiên đều thống nhất ở các nội dung cơ bản như sau: KKTCK được xác định là một không gian kinh tế, tại các cửa khẩu đều diễn ra các hoạt động kinh tế có quan hệ với quốc gia có cùng chung biên giới và nội địa phía sau. Dưới góc độ kinh tế, KKTCK được xem là trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế, là động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
Đặc trưng hoạt động kinh tế của KKTCK là thương mại, XNK, dịch vụ, đầu tư, xây dựng, gia công chế biến; KKTCK được cấp có thẩm quyền thành lập và quản lý bằng cơ chế, chính sách riêng phù hợp với điều kiện cụ thể. Từ những nội dung trên, có thể nhận dạng, định hình được KKTCK, phân biệt được KKTCK với các loại KKT khác như đã nêu trong phần khái niệm. Từ việc kế thừa các khái niệm về KKTCK của các tác giả đã nghiên cứu trước và phân tích nội hàm các khái niệm, đồng thời qua nghiên cứu thực tiễn tại KKTCK Lào Cai thì có thế đúc kết rằng, khu kinh tế cửa khẩu là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu có dân cư sinh sống và được áp 7 Luan van dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực, do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Vai trò, đặc điểm khu kinh tế cửa khẩu 1.
Vai trò Thứ nhất, phát triển KKTCK nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế thương mại, du lịch qua biên giới làm tăng sự hiểu biết lẫn nhau về văn hoá giữa các nước, từ đó cải thiện an ninh biên giới, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia và quốc tế. Phát triển KKTCK sẽ tạo ra điều kiện để tăng cường giao lưu văn hoá giữa hai nước, khai thác tiềm năng du lịch, công nghiệp để phát triển du lịch và công nghiệp, tận dụng được các lợi thế tiềm năng của từng địa phương ở cả hai bên đường biên, huy động sự tham gia của nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như ngoại giao, sản xuất hàng xuất khẩu, nghiên cứu khoa học công nghệ, tài chính,… của các tỉnh, các vùng có biên giới với các nước láng giềng vào hoạt động kinh tế đối ngoại ở khu vực biên giới. Thứ hai, phát triển KKTCK sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác các nước láng giềng và vươn tới các nước khác. Những nước láng giềng là những nước gần gũi về mặt địa lý, có nhiều đặc điểm chung về truyền thống, văn hoá, tập quán, nên thường có những điểm tương đồng về trình độ phát triển, cách tư duy kinh tế, thị hiếu tiêu dùng… Những đặc điểm này chính là điều kiện tiên quyết để đi đến quyết định hợp tác trong kinh tế thương mại.
Đẩy nhanh hoạt động thương mại tại khu vực các cửa khẩu biên giới sẽ là động cơ thúc đẩy TTKT thông qua việc tăng xuất khẩu; Thông qua việc hình thành và phát triển các KKTCK sẽ góp phần tăng cường, mở rộng và nâng cao hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa một nước với các nước có chung biên giới và qua các nước đó tới các nước khác, thúc đẩy phát 8 Luan van triển kinh tế - xã hội của các địa phương hai bên biên giới và cùng nhau khai thác các tiềm năng và lợi thế của KKTCK ở mỗi bên. Thứ ba, phát triển KKTCK tạo điều kiện nâng cấp buôn bán tiểu ngạch qua biên giới. Buôn bán tiểu ngạch qua biên giới tuy có mang lại lợi ích kinh tế trước mắt nhưng đây là hình thức trao đổi thương mại quốc tế cấp thấp, thiếu tính ổn định, chứa đựng nhiều yếu tố kinh tế ngầm, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng bất lợi đối với an sinh xã hội. Buôn bán tiểu ngạch vùng biên giới thường mang tính tự phát; không được Nhà nước, tổ chức hay công ty lớn nào bảo đảm và không có bảo hiểm nên gặp nhiều rủi ro, làm nản lòng các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ở khu vực biên giới.
Thứ tư, phát triển KKTCK góp phần thực hiện các chính sách ưu đãi đối với nhân dân vùng biên giới, thực hiện xoá đói, giảm nghèo.Việc hình thành các KKTCK với những cơ chế chính sách đặc biệt nhằm tạo ra sức bật, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc và ổn định vùng biên giới. Những khu vực biên giới trên bộ, trừ một vài cửa khẩu quốc tế quan trọng của các nước, phần lớn là những khu vực chậm phát triển so với trình độ kinh tế và mặt bằng xã hội của quốc gia. Nhất là giai đoạn đầu, việc áp dụng những cơ chế chính sách đặc thù trên một địa bàn nhỏ, trước khi nhân rộng ra địa bàn cả nước là biểu hiện của cách tiếp cận tiên tiến là rất cần thiết.