Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình và khoảng trống nghiên cứu của luận án 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực ngành vận tải hàng không trong bối cảnh hội nhập quốc tế 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực Về khái niệm, nội hàm của nguồn nhân lực, Adam Smith, nhà kinh tế học cổ điển người Anh, được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm ban đầu về nguồn nhân lực (Arthur, 2000).
Tiếp sau đó, Alfred Marshall (1842-1924), cũng thống nhất với khái niệm NNL của Adam Smith khi cho rằng NNL là một tài sản cá nhân giá trị nhất bao gồm năng lượng, năng lực và các kỹ năng trực tiếp tạo hiệu quả sản xuất công nghiệp. Sau này nguồn nhân lực và vốn nhân lực được tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu và phát triển bởi Liên hiệp quốc, Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cùng một số nhà lý thuyết tiêu biểu như Milton Freidman, Simon Kuznet và Gary Becker (2010) và một số nhà khoa học trên thế giới: M. Nghiên cứu về khái niệm NNL ở Việt Nam cũng có rất nhiều công trình tiêu biểu của các tác giả: Hoàng Chí Bảo (1992); Phạm Minh Hạc (1996); Đoàn Văn Khái (2000); Bùi Sỹ Lợi (2002); Nguyễn Hữu Dũng (2002); Nguyễn Thanh (2005); Bùi Văn Nhơn (2006); Nguyễn Ngọc Quân (2007) Các tác giả trên mặc dù có sự khác nhau về góc độ tiếp cận, không gian, thời gian và kết quả nghiên cứu, nhưng đều thống nhất về quan điểm khi cho rằng nguồn nhân lực là một nguồn vốn rất có giá trị cần phải được đầu tư và phát triển. Hình thức đầu tư có hiệu quả nhất vào nguồn vốn này chính là thông qua giáo dục & đào tạo, từ đó đóng góp và mang lại lợi ích cho cá nhân, tổ chức và cả quốc gia.
Thêm vào đó, một số tác giả như Mario Baldassarri, Luigi Paganetto và Edmun Sphelps (1994) cũng đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của nhân lực trình độ cao trong việc tiếp thu tri thức khoa học công nghệ hiện đại để tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ cho mỗi quốc 6 gia. Những nội dung này sẽ được tác giả kế thừa và chọn lọc trong quá trình thực hiện luận án vì đội ngũ phi công, nhân viên kỹ thuật máy bay được coi là nguồn nhân lực trình độ cao trong tổng thể ngành vận tải hàng không. Nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực cũng được nhiều tác giả nghiên cứu với những công trình khác nhau như: Harbison và Myers (1964), Craig (1976), Garavan (1991), Stewart và McGoldrick (1996), Armstrong (1999), Nadler & Nadler (1993), Gary Becker (2010), Lê Thị Ái Lâm (2003), Nguyễn Thanh (2005), Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (2012), Võ Xuân Tiến (2014). Các tác giả trên đều nêu các khái niệm về PTNNL, các nội dung cơ bản của vấn đề PTNNL, những yếu tố tác động đến PTNNL.
Đa số các công trình của các tác giả đều khẳng định PTNNL liên quan trực tiếp đến việc đào tạo, phát triển khả năng tài nguyên con người. Thêm vào đó, các tác giả còn chỉ ra rằng PTNNL cần tập trung vào những nội dung cơ bản là phát triển về số lượng nhân lực; nâng cao chất lượng nhân lực thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực của người lao động; điều chỉnh cơ cấu nguồn nhân lực; đảm bảo lợi ích cho người lao động. Từ những nghiên cứu về lý luận, các tác giả đã đi phân tích cụ thể thực trạng PTNNL, từ đó đưa ra những nhóm giải pháp PTNNL. Về vai trò của phát triển nguồn nhân lực, cũng được nhiều nhà khoa học đi sâu phân tích như Richard A.McMahon (2002), Đàm Đức Vượng, Phạm Tất Đông, Nguyễn Đắc Hưng.
Ngoài ra, trong báo cáo của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (1999) đã đánh giá: PTNNL là vấn đề quan trọng của thời đại toàn cầu hóa và nó ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu. Các quốc gia đang trong quá trình phát triển công nghệ mới và có sự chạy đua về tri thức. Để thể thực hiện được quá trình đó, đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải có trách nhiệm hướng tới sự phát triển nhân lực. Trong toàn cầu hóa kinh tế, nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự thành bại của tổ chức, quốc gia.
Đặc biệt trong nền kinh tế tri thức, chất lượng NNL là yếu tố chủ đạo, được coi là lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp, tổ chức hay quốc gia. Tác giả Nguyễn Đình Luận (2003), Bùi Thị Thanh (2005) cho rằng PTNNL góp phần phát triển KT-XH, là nhân tố nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động, phát triển con người toàn diện, là giải pháp chiến lược đi tắt, đón đầu để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển. 7 Trong hầu hết các công trình nghiên cứu về cách thức PTNNL, các nghiên cứu tiêu biểu như Richard A.Swanson (1995), “Nền tảng phát triển nguồn nhân lực”; Walter W.Mcmahon (2002), “Giáo dục và phát triển”; David Mc Guire và Kenneth Molbierg Jorgensen (2011): “Phát triển nguồn nhân lực”, Trần Thị Bích Nga (2006), sách dịch “Quản lý hiệu suất làm việc của nhân viên”. Những công trình trên nhấn mạnh tới vai trò của giáo dục, tự giáo dục và vấn đề học tập suốt đời như một phương thức hữu hiệu nhất để nguồn nhân lực luôn có được chất lượng cao tương ứng với yều cầu của thời đại mới.
Các tác giả đã bổ sung không chỉ về lý luận mà còn sáng tạo ra những ý tưởng học tập và tự học tập mới một cách hiệu quả mà người đọc có thể vận dụng để tự nâng cao trình độ của mình. Ngoài ra, một số tác giả như Jones Merrick (1992), Kye Woo Lee (2005) cũng chỉ ra nhiều chính sách và hệ chính sách hữu hiệu để PTNNL. Các chính sách khuyến khích PTNNL thông qua đào tạo và quản lý con người. Bên cạnh đó, yếu tố cơ sở vật chất cũng cần được chú trọng trong quá trình PTNNL.
Tuy nhiên, theo các tác giả PTNNL nếu chỉ tập trung vào hai chính sách chủ yếu là đào tạo và quản lý con người là chưa đủ mà còn phải được xác định bởi sự cấp thiết của hội nhập quốc tế và năng lực cạnh tranh về kinh tế. Các tác giả Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa (2008) với tác phẩm “Giáo dục và đào tạo - chìa khóa cho sự phát triển” nhấn mạnh vai trò của giáo dục đối với PTNNL; giáo dục đóng vai trò quan trọng không chỉ làm tăng vốn con người mà còn giúp con người có khả năng chấp nhận và thích ứng với các thay đổi. Từ đó, các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách cải cách giáo dục, đào tạo để PTNNL thích ứng với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến yếu tố về giáo dục, đào tạo trong quá trình PTNNL mà chưa đề cập hoặc không phân tích sâu về các yếu tố khác tác động đến PTNNL như quy mô dân số, chính sách của nhà nước về PTNNL, chế độ thù lao đãi ngộ nguồn nhân lực, y tế và chăm sóc sức khỏe đối với người lao động.
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu sinh có thêm cái nhìn toàn diện hơn về PTTNL để hoàn thiện luận án dưới góc độ nghiên cứu riêng của mình. Các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực ngành vận tải hàng không trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đối với các nghiên cứu về ngành VTHK thế giới, ngoài các báo cáo của các tổ chức quốc tế như IATA, ICAO và một số tập đoàn hàng không lớn như CAE, Boeing, Airbus về tình hình hoạt động, các dự báo tăng trưởng, các xu thế đi lại của 8 hành khách và nhu cầu về NNL để đảm bảo sự phát triển của ngành thì cũng có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến NNL ngành VTHK như: Steven Appelbaum (2002), Jody Hoffer Gittell (2005), Rigas Doganis (2009) Sana Deeba (2014), Dương Cao Thái Nguyên và Hoàng Minh Chính (2009); Nguyễn Thanh Bình (2007); Phạm Anh (2015), Trần Văn Khảm (2015), Nguyễn Thị Thanh Qúy (2015), Nguyễn Sỹ Thành (2018). Các tác giả đều chỉ ra rằng, ngành VTHK là một ngành đặc thù, có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và đặc biệt có xu hướng toàn cầu hóa cao, đòi hỏi sự thích ứng nhanh về mặt công nghệ. Chính vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lực luôn được quan tâm hàng đầu; để phát triển nguồn nhân lực các tác giả phần lớn đều đề cập đến phát triển đồng thời cả số lượng và chất lượng; khi nghiên cứu các hoạt động phát triển nguồn nhân lực, các tác giả thường đề cập đến các hoạt động như tuyển dụng, đào tạo, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực.
Theo “Đề án phát triển đào tạo nguồn nhân lực ngành hàng không Việt Nam giai đoạn đến năm 2020” của Cục Hàng không Việt Nam (2013) đã chỉ ra rằng để đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài, bền vững của ngành vận tải hàng không Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, ngoài các yếu tố về chính sách, phát triển thị trường, quản trị, nguồn tài lực, vật lực thì nguồn nhân lực ngành vận tải hàng không được coi là chìa khóa vàng để đi đến thành công mà trong đó hoạt động phát triển đào tạo nguồn nhân lực được coi là nhiệm vụ trọng tâm và mang tính đột phá xuyên suốt trong quá trình phát triển của ngành. Đề án “Phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng công ty hàng không Việt Nam (2015) cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của việc xây dựng và PTNNL để đảm bảo hoạt động sản xuất-kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, đáp ứng các yêu cầu tăng số lượng lao động trong bối cảnh sản lượng vận chuyển tăng mạnh, nhu cầu mở rộng thêm nhiều thị trường mới nhiều tiềm năng và ngăn chặn nguy cơ chảy máu chất xám sang các hãng hàng không khác trong nước và khu vực. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sẽ có nhiều thách thức và cơ hội mới cho ngành VTHK, đặc biệt trong việc PTNNL để đáp ứng sự phát triển của ngành. Các tác giả như: Arthur D.
đều chỉ ra rằng, hội nhập quốc tế và CMCN 4.0 đòi hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ cao, tư duy kỹ thuật số để đáp ứng các yêu cầu thay đổi 9 nhanh chóng của thị trường VTHK thế giới.