PHẦN MỞ ĐẦU 1. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho các quốc gia, các địa phương nhiều cơ hội cũng như thách thức trong cạnh tranh thu hút, sử dụng, trao đổi nguồn nhân lực trình độ cao. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt quan điểm “coi con người là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu, là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội”. Trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH, phát triển và nâng cao trình độ nguồn nhân lực là chiến lược đột phá, góp phần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp, thích ứng hơn với cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao lợi thế cạnh tranh, bảo đảm hướng đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương nhanh, hiệu quả, bền vững theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định.
Vai trò của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Nguồn nhân lực trình độ cao là một bộ phận của nguồn nhân lực đang làm việc ở những vị trí quản lý, chuyên môn kỹ thuật bậc cao và chuyên môn kỹ thuật bậc trung, thường được đào tạo ở trình độ cao đẳng trở lên; có kiến thức và kỹ năng để làm các công việc phức tạp; có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ và vận dụng sáng tạo những kiến thức, những kỹ năng đã được đào tạo trong quá trình lao động sản xuất. Với tư cách là nguồn lực đặc biệt, nguồn nhân lực trình độ cao là chủ thể sáng tạo, là yếu tố trung tâm được xem là năng lực nội sinh chi phối các nguồn lực khác của quá trình phát triển kinh tế xã hội. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực trình độ cao được quyết định hàng đầu bởi trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật không bị cạn kiệt nếu biết phát triển, khai thác và sử dụng hợp lý.
Các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp hiệu quả với nguồn nhân lực trình độ cao. Thực tế điều này đã được chứng minh qua sự phát triển vượt bậc của một số nước, tuy không được ưu đãi về tài nguyên nhưng do có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực nên đã hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa chỉ trong vòng vài ba thập kỷ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… Ở Việt Nam, một số địa phương được xem là phát triển mạnh nhờ vào phát triển nguồn nhân lực trình độ cao như Hà Nội, Tp. HCM, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương… Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao có vai trò quan trọng góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nguồn nhân lực trình độ cao là bộ phận nhân lực tinh túy nhất, đã được đào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có sức khỏe, có kỹ năng, năng lực và phẩm chất nghề nghiệp tốt, có khả năng đổi mới, sáng tạo và thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường 2 công nghệ và mong muốn đóng góp tài năng, công sức của mình cho sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong quá trình CNH-HĐH.
Trong mỗi giai đoạn của quá trình CNH-HĐH cấp tỉnh luôn gắn với một trình độ KHCN nhất định. Vì vậy, nó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực trình độ cao tương thích cả về mặt quy mô, chất lượng và cơ cấu với mỗi đặc điểm KHCN trong từng giai đoạn nhất định. Để đáp ứng yêu cầu nhân lực trình độ cao trong quá trình CNH- HĐH, tất yếu mỗi địa phương phải nghiên cứu triển khai phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, trong đó tập trung vào phát triển nhằm tăng trưởng quy mô, nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao, đảm bảo hợp lý cơ cấu nguồn nhân lực trình độ cao với cơ cấu kinh tế cấp tỉnh theo hướng CNHĐ. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu triển khai thực, thực hiện các công cụ quản lý nhà nước: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nguồn nhân lực trình độ cao nhằm phát triển NNLTĐC hiện của địa phương và phát triển nhằm thu hút, bổ sung, khai thác hiệu quả NNL TĐC từ bên ngoài vào địa phương đủ về quy mô, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực trình độ cao trong quá trình CNH-HĐH cấp tỉnh.
Nam Định là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, có diện tích tự nhiên 1.669,2 km2, dân số khoảng 1. Vị trí địa lý nằm ở phía cuối sông Hồng, trên quốc lộ 1A, tỉnh Nam Định cách trung tâm thành phố Hà Nội 90 km, khá thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội. Tỉnh Nam Định từ bước khởi điểm là một trung tâm sản xuất, thương mại quan trọng của cả nước với ngành công nghiệp dệt may và cơ khí. Tuy nhiên, sau hơn 30 năm đổi mới, mức độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn kém khởi sắc và có phần tụt hậu so với các tỉnh lân cận trong khu vực.
Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng nguyên nhân chính, chủ yếu nhất là do Nam Định vốn là tỉnh thuộc diện đất chật, người đông, sản xuất nhỏ lẻ, tiểu nông, manh mún; nguồn tài nguyên không phong phú; nguồn nhân lực trình độ cao của tỉnh Nam Định được xác định là không hạn chế (không thiếu), nhưng nguồn nhân lực phục vụ quá trình CNH-HĐH còn nhiều bất cập cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cơ cấu lao động trình độ cao chưa hợp lý cho sản xuất công nghiệp. Giai đoạn 2015 - 2019, tỉnh Nam Định phải đối mặt với tình trạng mất cân đối cung, cầu NNL trình độ cao. Tình trạng thiếu cung NNL có trình độ cao đẳng trở lên so với cầu NNL trình độ cao của tỉnh là khá lớn, điển hình năm 2019, hiện đang thiếu 20.000 lao động trình độ cao, trong đó thiếu hụt cung NNLTĐC tập trung chủ yếu ở ngành Công nghiệp-Xây dựng và ngành Dịch vụ- Thương mại. Riêng ngành Nông, lâm, ngư nghiệp đang có tình trạng dư cung NNL TĐC do chưa khai thác hết tiềm năng NNLTĐC…Tình trạng NNLTĐC, có chất lượng thường dịch chuyển đến các khu trọng điểm kinh tế của cả nước để làm việc ngày càng tăng, gây tình trạng chảy máu chất xám ra ngoài tỉnh cao.
Tầm nhìn chiến lược trong quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực trình độ cao của tỉnh trong quá trình CNH-HĐH còn nhiều hạn chế, điển hình như chính sách giữ chân, thu hút, khai thác, sử dụng và quản lý nguồn nhân lực trình độ cao của tỉnh chưa hiệu quả. 3 Cùng với cả nước, tỉnh Nam Định thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020. Tuy nhiên, đến năm 2020, mục tiêu CNH-HĐH của tỉnh Nam Định được xác định có nhiều tiêu chí, chỉ tiêu chưa đạt được. Trình độ CNH- HĐH của tỉnh mới đạt mức 72,20%, chỉ tiêu GRDP bình quân đầu người của tỉnh còn rất thấp, mới chỉ đạt 48,77% (1.500USD), chỉ tiêu NNL đã qua đào tạo có chứng chỉ, bằng cấp mới chỉ đạt 20,29/60% chuẩn tỉnh CNH-HĐH.
Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã xác định rõ mục tiêu: Tiếp tục đầu tư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH của tỉnh đồng bộ theo hướng công nghiệp hiện đại, khôi phục và phát triển thành phố Nam Định là một trong ba thành phố lớn của miền Bắc và là trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng theo Nghị quyết số 54-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 109/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với 6 chức năng trung tâm vùng: Công nghiệp; giáo dục, đào tạo; khoa học công nghệ; y tế; văn hóa, du lịch; thể thao theo quy hoạch địa giới hành chính mở rộng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Để thực hiện được mục tiêu chiến lược này, tỉnh Nam Định đã xác định rõ phải tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài (đội ngũ nguồn nhân lực trình độ cao về chuyên môn, giáo dục, đào tạo, y tế và khoa học, công nghệ…) vừa đáp ứng yêu cầu NNL trình độ cao trong quá trình đẩy nhanh thực hiện CNH-HĐH đến năm 2030, vừa tranh thủ các thành tựu của cuộc CMCN 4.0 hiện nay vào mọi lĩnh vực, ngành, nghề trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng, phát triển KTXH của tỉnh nhanh, bền vững. Xác định phát triển NNL trình độ cao trong quá trình CNH-HĐH là một trong ba chiến lược đột phá trong phát triển kinh tế xã hội nhằm tăng trưởng quy mô, nâng cao chất lượng, đảm bảo hợp lý cơ cấu NNL trình độ cao phù hợp với các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, các khu vực hướng đến thực hiện thành công mục tiêu CNH-HĐH của tỉnh. Chính vì vậy, để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH của tỉnh Nam Định cần thiết phải nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trình độ cao.
Đặc biệt gắn với sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra như hiện nay thì nguồn nhân lực trình độ cao ấy đòi hỏi cần phải được đào tạo một cách bài bản để có đủ trình độ chuyên môn kỹ thuật làm việc độc lập, có khả năng đổi mới, sáng tạo, thích ứng cao, có kỹ năng, năng lực lao động và phẩm chất nghề nghiệp tốt đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành, các thành phần kinh tế, các khu vực của tỉnh Nam Định trong quá trình CNH-HĐH. Xuất phát từ những lý do nêu trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao của tỉnh Nam Định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” là có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.