Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Phát triển kinh tế biển của Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Huy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Lan Hương và TS. Lại Lâm Anh, bảo vệ năm 2024 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Kinh tế Quốc tế (mã số: 9.06).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nhật Bản là một quốc gia biển với đường bờ biển dài và vị trí địa chiến lược quan trọng. Tuy nhiên, trước khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, kinh tế biển của quốc gia này chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng do tập trung nguồn lực vào công nghiệp chế tạo và dịch vụ nội địa nhằm tạo nên kỳ tích kinh tế. Sự sụp đổ của bong bóng tài sản năm 1991 dẫn đến "thập kỷ mất mát", buộc Nhật Bản phải tái cơ cấu nền kinh tế. Bước sang thế kỷ XXI – thế kỷ của đại dương, Nhật Bản nhanh chóng chuyển hướng chiến lược, ban hành Luật cơ bản về chính sách đại dương (Basic Act on Ocean Policy) năm 2007 và định kỳ 5 năm ban hành các Kế hoạch cơ bản về chính sách đại dương (Basic Plan on Ocean Policy), trở thành quốc gia phát triển kinh tế biển hàng đầu khu vực.
Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt mục tiêu đưa kinh tế thuần biển đóng góp 10% GDP cả nước và kinh tế 28 tỉnh, thành phố ven biển đạt 65–70% GDP vào năm 2030. Mặc dù sở hữu bờ biển dài và vị trí trung tâm Đông Nam Á, kinh tế biển Việt Nam vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thiếu tính đồng bộ và hạn chế về công nghệ. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống các kinh nghiệm chính sách và thực tiễn phát triển kinh tế biển của Nhật Bản giai đoạn 2007–2023 nhằm cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn cho Việt Nam là yêu cầu cấp thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định gồm:
- Các công trình nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về kinh tế biển tại Việt Nam còn ít; những nghiên cứu về Nhật Bản chủ yếu tập trung vào chính trị, đất nước học, lịch sử hoặc từng phân ngành riêng lẻ, thiếu tính toàn diện và hệ thống từ dấu mốc chính sách đại dương năm 2007.
- Các nghiên cứu về kinh tế biển Việt Nam thường đi sâu vào từng địa phương hoặc một ngành đơn lẻ, thiếu sự đối sánh tổng thể theo các nhóm ngành mũi nhọn với một cường quốc biển phát triển.
- Thiếu vắng các công trình đúc kết bài học kinh nghiệm trực tiếp từ mô hình thể chế và tổ chức thực thi chính sách đại dương của Nhật Bản để chuyển hóa thành khuyến nghị chính sách cụ thể cho Việt Nam đến năm 2030.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích chính sách và thực trạng phát triển kinh tế biển của Nhật Bản từ năm 2007 đến năm 2023, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm và gợi ý chính sách cho Việt Nam trong phát triển kinh tế biển giai đoạn đến năm 2030.
Luận án giải quyết 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ nội hàm khái niệm, đặc điểm và vai trò của kinh tế biển trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
- Nghiên cứu các tiềm năng phát triển kinh tế biển của Nhật Bản; các chính sách phát triển kinh tế biển của Nhật Bản kể từ năm 2007 đến năm 2023.
- Làm rõ những thành công, hạn chế và các nhân tố tác động đến phát triển kinh tế biển của Nhật Bản giai đoạn 2007–2023.
- Rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trong phát triển kinh tế biển giai đoạn đến năm 2030.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển kinh tế biển Nhật Bản.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2007 (thời điểm Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về chính sách đại dương) đến năm 2023.
- Phạm vi không gian: Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng 4 ngành kinh tế biển quan trọng của Nhật Bản gồm: (1) Công nghiệp đóng tàu; (2) Năng lượng tái tạo trên biển; (3) Nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản; (4) Du lịch biển.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chiến lược, khung khổ chính sách, bộ máy quản lý, thực trạng 4 phân ngành trọng điểm, đánh giá thành công, hạn chế, nguyên nhân và các bài học kinh nghiệm tham chiếu cho Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân loại và tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm chủ đề chính:
Các hướng nghiên cứu trước đây
-
Lý luận chung về kinh tế biển và quản trị đại dương:
- Miriam Sara Repetto (2005) trong "Towards an ocean governance framework and national ocean policy for Peru" (Liên Hợp Quốc và Quỹ The Nippon Foundation tài trợ) phân tích khung pháp lý, thể chế và cơ chế quản lý biển cấp quốc gia và quốc tế.
- Salm RV, Clark JR, Siirila E (2000) trong "Marine and coastal protected areas: a guide for planners and managers" và Cicin-Sain B, Knecht RW (1998) trong "Integrated coastal and ocean management: concepts and practices" nghiên cứu về quản lý tổng hợp vùng bờ và khu bảo tồn biển.
- Bilina Cicin-Sain và Stefano Belfiore (2012) tổng quan lý thuyết và thực hành kết nối quản lý tổng hợp vùng duyên hải với bảo tồn biển.
- Báo cáo của Ủy ban châu Âu (2012) về "Blue growth" và ấn phẩm của OECD (2016) "The Ocean Economy in 2030" xác lập các khái niệm về kinh tế xanh, kinh tế đại dương và các động lực tăng trưởng bền vững từ biển.
- Các học giả trong nước như Lại Lâm Anh (nghiên cứu kinh tế biển Trung Quốc, Malaysia, Singapore), Hà Thị Thanh Thủy (kinh tế du lịch biển), Nguyễn Bá Ninh (kinh tế biển Nam Trung Bộ) đã làm rõ khái niệm, vai trò của từng lĩnh vực kinh tế biển ở phạm vi địa phương và khu vực.
-
Tài nguyên và chính sách phát triển kinh tế biển Nhật Bản:
- Bộ Ngoại giao Nhật Bản (2002) với ấn phẩm "Sea of Japan" cung cấp dữ liệu địa lý, lịch sử và tranh chấp biển.
- Victoria Lyon Bestor và Theodore Bestor (2014) khảo sát tài nguyên thủy sản; Jonathan Arias (2018) nghiên cứu khoáng sản đáy biển và năng lượng tái tạo.
- Michael A. McDevitt và Dmitry Gorenburg (2013) phân tích vị trí chiến lược và an ninh hàng hải khu vực biển Nhật Bản; Habara Keiji (2011) với "Maritime Policy in Japan" phân tích cấu trúc kinh doanh và chính sách hàng hải của Nhật Bản.
-
Thực trạng các ngành kinh tế biển của Nhật Bản:
- OECD (2016, 2021) đánh giá ngành công nghiệp đóng tàu và sản lượng thủy sản Nhật Bản; Bingquing Yang (2018) phân tích năng lực cạnh tranh đóng tàu Nhật Bản – Trung Quốc.
- Al Karim Govindji (2018) và Guillaime Hennquin (2016) nghiên cứu điện gió ngoài khơi, năng lượng thủy triều và sóng biển; Irina Popescu và Toshihiko Ogushi (2013) cùng ấn phẩm VASEP (2020) phân tích hệ thống quản lý nghề cá.
- Phan Chí Thành (2018) khảo sát chính sách năng lượng; Satoshi Watanabe và Tomoko Sakami (2019) chỉ ra thách thức tự nhiên và chi phí trong nuôi trồng thủy sản; Takafumi Sasaki (2020) phân tích vấn đề thiếu hụt và sử dụng lao động nước ngoài trong ngành thủy sản Nhật Bản.
-
Phát triển kinh tế biển Việt Nam:
- Các công trình của Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), Nguyễn Hồng Thao (2011), Nguyễn Văn Kim (2014), Trần Đình Thiên (2011), Bùi Tất Thắng (2007), Nguyễn Thanh Minh (2011), Hải Lam (2022), Hoàng Khắc Nam (2013), Nguyễn Bá Diến (2009) tập trung vào vị trí địa chiến lược của Biển Đông, tư duy kinh tế biển, an ninh chủ quyền và định hướng phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án định vị là công trình nghiên cứu hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển kinh tế biển của Nhật Bản từ khi ban hành Luật cơ bản về chính sách đại dương (2007) đến năm 2023, phân tích sâu 4 phân ngành trụ cột, nhận diện thành công và hạn chế, từ đó xây dựng các bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách trực tiếp cho việc triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm và khung phân tích
Luận án tổng hợp các trường phái lý luận về kinh tế biển trên thế giới (quan điểm của Yang Jinsen 1984; Dương Kim Thâm, Lương Hải Tân, Hoàng Minh Lỗ 1990; Rahul Kumar 2020) và Việt Nam (Đào Duy Quát, Phạm Văn Linh 2008; Huỳnh Văn Thanh 2002; Bùi Tất Thắng 2007; Nghị quyết 36-NQ/TW).
Từ đó, tác giả xác lập khái niệm thống nhất:
Kinh tế biển là các hoạt động kinh tế thông qua việc sử dụng các nguồn lực của biển ở 3 phạm vi: ven bờ, mặt biển và đáy biển nhằm mang lại các lợi ích cho các chủ thể kinh tế phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Về phát triển kinh tế biển:
Phát triển kinh tế biển là quá trình khai thác các nguồn lực của biển để phục vụ lợi ích của các nhóm chủ thể và quốc gia, đồng thời là quá trình hoàn chỉnh về chính sách, biện pháp, cơ cấu ngành kinh tế biển để đảm bảo khai thác nguồn lực biển một cách hiệu quả nhất nhưng vẫn hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, ứng phó biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng cuộc sống và công bằng xã hội.
Khung lý thuyết của luận án xác định:
- 3 đặc điểm: (1) Phụ thuộc nhiều vào tài nguyên biển; (2) Có mối quan hệ tương hỗ với các ngành kinh tế nội địa; (3) Hướng tới phát triển bền vững và gắn liền với bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
- 5 vai trò: (1) Cung cấp thực phẩm, năng lượng và khoáng sản; (2) Mở rộng thương mại và hàng hải quốc tế; (3) Tạo việc làm và nâng cao sinh kế cư dân ven biển; (4) Nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương ven biển; (5) Mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế.
- 5 nội dung cơ bản: (1) Hoạch định chính sách và chiến lược; (2) Phát triển các ngành mũi nhọn theo quy hoạch không gian biển; (3) Bảo vệ môi trường sinh thái; (4) Giữ vững an ninh quốc phòng; (5) Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và thiết lập cơ sở dữ liệu biển.
- Tiêu chí đánh giá: Giá trị sản xuất (GO), Giá trị gia tăng (VA), Tốc độ tăng trưởng, Doanh thu, Kim ngạch xuất nhập khẩu, Tỷ lệ việc làm, Đóng góp ngân sách nhà nước.
- Các nhân tố ảnh hưởng:
- Nhân tố bên trong: Tài nguyên biển; Vị trí chiến lược; Trình độ phát triển kinh tế - xã hội; Nhu cầu và mục tiêu phát triển; Khả năng huy động nguồn lực (vốn, nhân lực, công nghệ, cơ chế chính sách).
- Nhân tố bên ngoài: Môi trường kinh tế toàn cầu; Các hiệp định/thỏa thuận quốc tế; Biến đổi khí hậu; Môi trường an ninh - chính trị quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận tiếp cận liên ngành (kinh tế học, kinh tế ngành, thương mại quốc tế, quan hệ quốc tế, lịch sử, chính trị học) cùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Tiếp cận quá trình phát triển kinh tế biển của Nhật Bản theo phân đoạn thời gian từ năm 2007 và theo từng phân ngành.
- Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: So sánh các giai đoạn, các chính sách và đối sánh giữa Nhật Bản với Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case-study): Khảo sát các mô hình dự án năng lượng tái tạo, quản lý nghề cá tại Nhật Bản.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn các nhà khoa học, nhà quản lý tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng kết hợp phân tích định tính và định lượng (thống kê mô tả, phân kỳ lịch sử, tổng hợp chuỗi số liệu).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản pháp luật, chính sách của Nhật Bản: Luật cơ bản về chính sách đại dương năm 2007, các Kế hoạch cơ bản về chính sách đại dương các giai đoạn.
- Dữ liệu thống kê thứ cấp: Sách trắng Thủy sản, Sách trắng Năng lượng tái tạo, Sách trắng Du lịch của Chính phủ Nhật Bản; báo cáo của OECD, Liên Hợp Quốc, VASEP.
- Văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam; báo cáo ngành của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 4 nhóm vấn đề: lý luận về kinh tế biển và quản trị đại dương; tiềm năng tài nguyên và chính sách biển của Nhật Bản; thực trạng các ngành kinh tế biển Nhật Bản; thực trạng và chiến lược kinh tế biển Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng các công trình hiện có chưa phân tích có hệ thống việc thực thi Luật cơ bản về chính sách đại dương của Nhật Bản từ năm 2007 đến nay dưới góc độ một khung chính sách tích hợp, đồng thời thiếu sự liên hệ, so sánh trực tiếp để rút ra bài học cho các nước đang phát triển như Việt Nam.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế biển
Chương 2 hoàn thiện khung lý luận về phát triển kinh tế biển. Tác giả phân tích cấu trúc kinh tế biển gồm 3 không gian khai thác: vùng ven bờ, mặt biển và đáy biển. Chương này chuẩn hóa hệ thống khái niệm, xác lập 3 đặc điểm bản chất, 5 vai trò động lực, 5 nội dung quản lý nhà nước, hệ thống tiêu chí lượng hóa kết quả (GO, VA, tăng trưởng, ngân sách) và phân loại 9 nhân tố tác động (5 nhân tố bên trong và 4 nhân tố bên ngoài), làm hệ quy chiếu lý thuyết cho việc phân tích thực trạng ở Chương 3 và Chương 4.
Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế biển Nhật Bản giai đoạn 2007–2023
Chương 3 phân tích sâu thực trạng phát triển kinh tế biển của Nhật Bản:
- Vị trí địa chiến lược và tiềm năng tài nguyên:
Nhật Bản là quốc gia quần đảo gồm 4 quần đảo chính: Kuril (Chishima), Nhật Bản, Ryukyu và Izu-Ogasawara. Diện tích đất liền đạt 364.560 km² (xếp thứ 60 thế giới), diện tích lãnh hải 13.430 km², đường bờ biển dài 35.306 km và 80% dân số sống tại vùng ven biển. Mọi điểm địa lý tại Nhật Bản đều cách biển không quá 100 km.
| Đặc điểm địa lý / Hạ tầng biển Nhật Bản |
Dữ liệu thống kê trong văn bản |
| Diện tích đất liền |
364.560 km² |
| Diện tích lãnh hải |
13.430 km² |
| Chiều dài đường bờ biển |
35.306 km |
| Tỷ lệ dân số sống tại vùng ven biển |
80% |
| Tỷ lệ thương mại quốc tế qua cảng biển |
99% |
| Tỷ lệ thương mại nội địa qua cảng biển |
42% |
| Tỷ lệ hàng hóa nhập khẩu qua Biển Đông |
88% |
Hệ thống cảng biển giữ vai trò huyết mạch: 99% thương mại quốc tế và 42% thương mại nội địa được vận chuyển bằng đường biển. Các cảng biển quốc tế lớn gồm: Tokyo, Chiba, Yokohama, Shimizu, Nagoya, Osaka, Kobe, Hakata. Phân loại cảng biển phục vụ năng lượng chia thành các cảng tiếp nhận LNG cho tàu viễn dương (Hakodate, Okayama, Hachinohe, Takamatsu) và các cảng LNG ven bờ. Về địa chính trị, các vùng biển bao quanh Nhật Bản gồm Biển Nhật Bản, Biển Hoa Đông (nơi có tranh chấp quần đảo Senkaku), Biển Thái Bình Dương và tuyến vận tải qua Biển Đông (nơi 88% hàng hóa đến Nhật Bản đi qua). Thủ tướng Shinzo Abe năm 2007 đã đề xuất tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, phối hợp trong cơ chế Bộ Tứ Kim Cương (Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ, Australia).
-
Thể chế và chính sách đại dương:
Luật cơ bản về chính sách đại dương (2007) thiết lập cơ chế chỉ đạo liên bộ ngành thuộc Văn phòng Nội các. Chính phủ Nhật Bản xây dựng các Kế hoạch cơ bản về chính sách đại dương định kỳ 5 năm một lần để phân bổ nguồn lực và điều chỉnh ưu tiên phát triển.
-
Thực trạng 4 ngành kinh tế biển trọng điểm:
- Công nghiệp đóng tàu: Tái cơ cấu theo hướng công nghệ cao, nâng cao năng lực cạnh tranh với Trung Quốc và Hàn Quốc thông qua đóng tàu chuyên dụng, tàu chở LNG, tàu ngầm nghiên cứu và ứng dụng giải pháp tiết kiệm năng lượng.
- Năng lượng tái tạo trên biển: Chuyển dịch cơ cấu năng lượng từ sau năm 1973 đến nay, đẩy mạnh đầu tư điện gió ngoài khơi (công nghệ móng cố định và móng nổi), năng lượng thủy triều và dòng hải lưu nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải.
- Nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản: Áp dụng mô hình quản lý nghiêm ngặt theo Hạn ngạch đánh bắt toàn bộ cho phép (TAC), Nỗ lực toàn diện cho phép (TAE) và phân cấp quản lý thông qua Hợp tác xã Thủy sản địa phương (FCA). Sản lượng khai thác được theo dõi tại 5 vùng biển chính giai đoạn 1980–2020; cơ cấu xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2005–2020 duy trì ổn định với các mặt hàng chủ lực (cá ngừ, cá ngừ vằn, cá mòi, cá thu, cua, mực, cá hồi).
- Du lịch biển: Phát triển đồng bộ các vùng du lịch ven biển, thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế giai đoạn 1964–2022 (đặc biệt tăng trưởng mạnh đến năm 2019 trước khi chịu ảnh hưởng của đại dịch).
-
Đánh giá thành công và hạn chế:
- Thành công: Thể chế quản lý biển tập trung, thống nhất; chính sách dài hạn và đồng bộ; trình độ khoa học công nghệ biển tiên tiến; kết hợp hiệu quả giữa khai thác kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Hạn chế: Rủi ro thiên tai lớn (động đất, sóng thần, bão biển); tình trạng già hóa dân số làm suy giảm lực lượng lao động nghề cá và hàng hải, dẫn đến phụ thuộc vào lao động nước ngoài; chi phí đầu vào tăng cao; tồn tại tranh chấp chủ quyền tại một số vùng biển.
Chương 4: Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam
Chương này phân tích thực trạng kinh tế biển Việt Nam, chỉ rõ các điểm nghẽn: hạ tầng cảng biển còn manh mún, khai thác thủy sản ven bờ quá mức, công nghiệp hỗ trợ biển yếu, ứng dụng khoa học công nghệ hạn chế.
Đối sánh tương đồng và khác biệt giữa hai quốc gia:
| Tiêu chí so sánh |
Nhật Bản |
Việt Nam |
| Vị trí địa lý |
Quốc gia quần đảo, tiếp giáp nhiều biển lớn |
Quốc gia bán đảo, bờ biển dài hướng ra Biển Đông |
| Trình độ phát triển |
Nền kinh tế phát triển, công nghệ biển cao |
Nền kinh tế đang phát triển, công nghệ biển đang hoàn thiện |
| Hệ thống thể chế biển |
Luật và Kế hoạch chính sách đại dương tập trung |
Chiến lược biển 2030 (Nghị quyết 36-NQ/TW), luật chuyên ngành |
| Lực lượng lao động |
Già hóa, thiếu hụt, phụ thuộc lao động nhập khẩu |
Dồi dào nhưng thiếu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao |
Từ thực tiễn của Nhật Bản, tác giả rút ra 4 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
- Xây dựng thể chế và hệ thống chính sách: Cần ban hành khung pháp lý tích hợp, có cơ quan điều phối liên ngành tập trung về biển, ban hành kế hoạch hành động định kỳ 5 năm.
- Phát triển bền vững và bảo tồn: Chuyển đổi mô hình quản lý ngư trường từ kiểm soát sản lượng sang quản lý hạn ngạch nghiêm ngặt (TAC, TAE), phát triển mô hình hợp tác xã nghề cá gắn với bảo vệ sinh thái.
- Tự chủ và làm chủ công nghệ: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong đóng tàu, nuôi biển xa bờ, năng lượng tái tạo ngoài khơi và điều tra tài nguyên đáy biển.
- Huy động nguồn lực và tăng cường hợp tác: Đa dạng hóa nguồn vốn (ngân sách, tư nhân, FDI), gắn kết phát triển kinh tế biển với quốc phòng - an ninh và tuân thủ luật pháp quốc tế (UNCLOS 1982).
Luận án đề xuất 4 nhóm khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam đến năm 2030:
- Hoàn thiện thể chế chính sách, rà soát và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước thống nhất về biển và hải đảo.
- Phát triển khoa học công nghệ biển và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành kinh tế biển.
- Phát triển ngành nghề kinh tế biển có trọng điểm theo thứ tự ưu tiên: du lịch và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và khoáng sản biển; nuôi trồng và khai thác hải sản bền vững; công nghiệp ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.
- Tăng cường ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu biển tích hợp, viễn thám, trí tuệ nhân tạo) trong quản trị, dự báo và giám sát môi trường biển.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và chuẩn hóa khung phân tích về kinh tế biển và phát triển kinh tế biển trên cả 3 chiều không gian: ven bờ, mặt biển và đáy biển.
- Xác lập đồng bộ các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động kinh tế biển (GO, VA, tăng trưởng, việc làm, ngân sách) cùng hệ thống nhân tố tác động bên trong và bên ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện và cập nhật về quá trình triển khai Luật cơ bản về chính sách đại dương của Nhật Bản giai đoạn 2007–2023, làm rõ kinh nghiệm quản lý 4 ngành kinh tế then chốt: đóng tàu, năng lượng tái tạo, thủy sản và du lịch biển.
- Đúc kết các bài học có tính tương thích cao và đề xuất hệ thống giải pháp chính sách khả thi nhằm phục vụ thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tiếp cận số liệu phân ngành năng lượng tái tạo và tài nguyên khoáng sản đáy biển của Nhật Bản chủ yếu thông qua các báo cáo thứ cấp, Sách trắng và tài liệu công bố của các tổ chức quốc tế; chưa có điều kiện khảo sát thực địa trực tiếp tại các cơ sở kinh tế biển của Nhật Bản.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu định lượng về tác động của các mô hình kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng xanh trên biển; đánh giá chi tiết tính khả thi của việc thí điểm chuyển giao công nghệ điện gió ngoài khơi và mô hình hợp tác xã thủy sản kiểu Nhật Bản vào các tỉnh ven biển cụ thể của Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Cơ quan hoạch định chính sách: Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân 28 tỉnh, thành phố ven biển trong việc xây dựng quy hoạch không gian biển và kế hoạch hành động phát triển kinh tế biển.
- Viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Hải dương học và Quan hệ quốc tế.
- Nội dung tham khảo trọng tâm: Khung lý luận và tiêu chí đánh giá kinh tế biển tại Chương 2; mô hình quản lý hạn ngạch nghề cá (TAC, TAE, FCA) và chính sách phát triển điện gió ngoài khơi của Nhật Bản tại Chương 3; hệ thống khuyến nghị phân nhóm ngành tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật cơ bản về chính sách đại dương của Nhật Bản được ban hành khi nào và có ý nghĩa gì?
Luật cơ bản về chính sách đại dương (Basic Act on Ocean Policy) được Nhật Bản ban hành năm 2007 (Đạo luật số 33). Đây là văn bản pháp lý nền tảng chuyển dịch tư duy phát triển của Nhật Bản sang mô hình "nhà nước đại dương", thiết lập cơ chế chỉ đạo tập trung thuộc Nội các và định kỳ 5 năm ban hành Kế hoạch cơ bản về chính sách đại dương để quản lý đồng bộ các ngành kinh tế, an ninh và môi trường biển.
2. Luận án khảo sát sâu thực trạng những ngành kinh tế biển nào của Nhật Bản?
Luận án tập trung khảo sát 4 ngành kinh tế biển trọng điểm: (1) Công nghiệp đóng tàu; (2) Năng lượng tái tạo trên biển (điện gió ngoài khơi, năng lượng thủy triều và dòng hải lưu); (3) Nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản; (4) Phát triển du lịch biển.
3. Khái niệm kinh tế biển được luận án thống nhất tiếp cận theo những không gian nào?
Luận án tiếp cận kinh tế biển là tổng thể các hoạt động kinh tế thông qua việc sử dụng các nguồn lực của biển ở 3 phạm vi không gian: vùng ven bờ, mặt biển và đáy biển nhằm mang lại lợi ích cho các chủ thể kinh tế và phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
4. Nhật Bản quản lý và điều tiết ngành đánh bắt thủy sản bằng những công cụ chính sách nào?
Nhật Bản áp dụng kết hợp ba công cụ chính: Hạn ngạch đánh bắt toàn bộ cho phép (TAC - Total Allowable Catch), Nỗ lực toàn diện cho phép (TAE - Total Allowable Effort) và phân cấp quản lý cấp phép đánh bắt thông qua mạng lưới Hợp tác xã Thủy sản địa phương (FCA - Fisheries Cooperative Association).
5. Luận án đề xuất những nhóm khuyến nghị chính sách lớn nào cho Việt Nam đến năm 2030?
Tác giả đề xuất 4 nhóm khuyến nghị: (1) Hoàn thiện thể chế và bộ máy quản lý nhà nước thống nhất về biển; (2) Phát triển khoa học công nghệ biển và đào tạo nhân lực chất lượng cao; (3) Phát triển có trọng điểm các ngành kinh tế biển mũi nhọn theo thứ tự ưu tiên; (4) Ứng dụng thành tựu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong quản lý, giám sát và khai thác biển.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quang Huy đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển kinh tế biển và phân tích toàn diện quá trình thực thi chính sách đại dương của Nhật Bản giai đoạn 2007–2023. Công trình làm rõ những thành công về thể chế, công nghệ cũng như các thách thức về già hóa dân số và thiên tai mà kinh tế biển Nhật Bản đối mặt. Trên cơ sở đối sánh điều kiện thực tế, luận án đã đề xuất hệ thống bài học kinh nghiệm và giải pháp chính sách có giá trị thực tiễn nhằm thúc đẩy chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030.