Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Thứ nhất, nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển kinh tế biển: Lịch sử thế giới cận, hiện đại cho thấy hầu hết các cường quốc khi trỗi dậy đều vươn ra biển, khiến việc xây dựng sức mạnh trên biển đã trở thành quy luật phát triển của các quốc gia này. Quá trình phát triển thăng trầm nhiều thế kỷ qua của một loạt các cường quốc như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp, Anh, Nga, Đức, Nhật và Mỹ cho thấy chiến lược biển của các quốc gia này đều được hình thành từ rất sớm với tầm nhìn dài hạn, coi biển là một lợi thế và một công cụ chiến lược quan trọng để tăng cường sự giàu có, quyền lực và ảnh hưởng quốc gia. Điều này không chỉ đúng đối với các cường quốc biển, mà còn đúng đối với các nước có quy mô biển nhỏ hơn như Chile, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc…và nhiều nước khác.
Trong nhiều công trình nghiên cứu, các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế biển đã được phân tích dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Trong cuốn “Towards an ocean governance framework and national ocean policy for Peru” của Miriam Sara Repetto, thuộc United Nations, do quỹ The Nippon Foundation of Japan tài trợ năm 2005, các vấn đề chung về quản lý biển cấp quốc tế và cấp quốc gia đã được phân tích cụ thể. Theo tác giả, phát triển kinh tế biển của một quốc gia cần tuân thủ theo một hệ thống pháp lý, gồm luật pháp, hệ thống thể chế và các cơ chế thực hiện. Luật pháp ở đây bao gồm cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia.
Các khung khổ luật pháp chính sách đầy đủ sẽ đảm bảo cho việc quản lý biển phục vụ phát triển bền vững. Phát triển kinh tế biển quốc gia còn được đề cập đến trong nhiều tài liệu nước ngoài khác như: “Marine and coastal protected areas: a guide for 7 planners and managers”, tác giả Salm RV, Clark JR, Siirila E, NXB Switzerland and Cambridge năm 2000; hoặc “Integrated coastal and ocean management: concepts and practices” tác giả Cicin-Sain B, Knecht RW; NXB Island, Washington DC, năm 1998; hoặc “Linking marine protected areas to integrated coastal and ocean management: a review of theory and practice” của Bilina Cicin Sain và Stefano Belfiore, University of Deleware, USD, 2012. Ngoài ra, vấn đề này còn được thể hiện trong các tài liệu của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) và nhiều công ước khác của Tổ chức hàng hải quốc tế, Hội nghị môi trường và phát triển của Liên hợp quốc, Công ước đa dạng sinh học, Công ước khung của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Chương trình hành động toàn cầu về môi trường biển từ các hoạt động trên đất liền. Trong cuốn “Blue growth: scenarious and drivers for sustainable growth from the oceans, seas and coast” của Uỷ ban châu Âu năm 2012, (EC Third Interim Report, 13/3/2012, Rottterdam/Brussels), các vấn đề chung về tăng trưởng xanh đã được phân tích kỹ lưỡng, trong đó có đề cập đến vai trò của các hoạt động kinh tế biển đối với tăng trưởng xanh và những lĩnh vực chủ yếu trong phát triển kinh tế biển nhằm mục đích bảo vệ an ninh biển và tăng cường tiềm lực của biển cả.
OECD năm 2016 xuất bản cuốn sách “The Ocean Economy in 2030”, Paris, 2016. Trong cuốn sách này, thuật ngữ “nền kinh tế đại dương” được đề cập đến như là một trụ cột cần thiết cho sự phát triển thịnh vượng của loài người. Cuốn sách đề cập đến các đặc điểm cơ bản của nền kinh tế đại dương, sự cần thiết phát triển kinh tế đại dương đến năm 2030, những thay đổi về môi trường biển và tác động của nó đến nền kinh tế đại dương, những nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế đại dương, trong đó có cả nhân tố khoa học công nghệ, an ninh và kiềm chế xung đột và nhiều nhân tố khác. 8 Các tài liệu này phần nào cung cấp những luận cứ cho việc xây dựng khung lý thuyết về phát triển kinh tế biển, trong đó có những thông tin và luận cứ quan trọng về mặt khái niệm (kinh tế biển, kinh tế hàng hải, kinh tế đại dương), các hệ thống luật pháp chính sách để phát triển kinh tế biển, bao gồm kinh tế hàng hải, công nghiệp đóng tàu biển, công nghiệp hoá lọc dầu, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, phát triển du lịch biển….
Các tài liệu trong nước cũng bàn nhiều đến các vấn đề này. Trong cuốn sách “Phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia, Singapore và gợi ý chính sách cho Việt Nam”, tiến sĩ Lại Lâm Anh đã phân tích các khái niệm liên quan đến phát triển kinh tế biển, quản lý biển, những đặc điểm nổi bật và hạn chế của Trung Quốc, Malaysia, Singapore trong phát triển kinh tế biển, quản lý kinh tế biển, từ đó gợi ý các chính sách cho Việt Nam. Các chính sách được tác giả đề cập đến là phát triển các hệ thống cảng biển, vận tải biển, công nghiệp cảng biển, khai thác dầu khí và khoáng sản, du lịch biển. Bên cạnh đó, luận án tiến sĩ của Hà Thị Thanh Thuỷ “Cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển kinh tế du lịch biển ở Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” cũng hệ thống khái niệm kinh tế biển, kinh tế du lịch biển, vai trò của du lịch biển trong phát triển kinh tế biển.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Bá Ninh với đề tài “Kinh tế biển ở các tỉnh Nam trung bộ Việt Nam trong hội nhập quốc tế” cũng tập trung phân tích sâu các vấn đề về kinh tế biển, vai trò của kinh tế biển đối với các quốc gia ven biển…Các công trình nghiên cứu trong nước đã phần nào làm rõ được một số khái niệm, vai trò, nội hàm của kinh tế biển, các chính sách cơ bản để phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ tập trung chủ yếu ở một số vùng, địa phương và một số quốc gia trong khu vực, chưa có cách nhìn bao quát, tổng thể về vấn đề nghiên cứu của luận án. 9 Thứ hai, nghiên cứu tài nguyên và chính sách phát triển kinh tế biển ở Nhật Bản: Nhật Bản là quốc gia hải đảo, nghèo tài nguyên, đã từ lâu phụ thuộc nhiều vào các tuyến đường thương mại hàng hải qua eo biển Malacca và biển Đông để phát triển kinh tế. Do đó, bảo vệ tự do và an ninh hàng hải, hàng không ở biển luôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với Nhật Bản.
Trong cuốn sách “Sea of Japan” do Bộ ngoại giao Nhật Bản xuất bản năm 2002, các thông tin về biển Nhật Bản đã được cung cấp đầy đủ, trong đó có những thông tin về lịch sử hình thành biển Nhật Bản, các vùng biển và đặc điểm của các vùng biển Nhật bản, một số vùng còn đang tranh chấp, các dạng bản đồ định hình biển Nhật Bản. Nghiên cứu về tài nguyên trong phát triển kinh tế biển Nhật Bản, các công trình nghiên cứu đã làm nổi bật các tài nguyên quan trọng của Nhật bản như các loài cá (Victoria Lyon Bestoer và Theodore Bestor, 2014), các tài nguyên khoáng sản dưới biển và các nguồn tài nguyên phát triển năng lượng tái tạo trên biển (Jonathan Arias, 2018). Tác giả Michael A McDevitt và Dmitry Gorenburg trong bài viết “The long littoral project: Sea of Japan: a maritime perspective on Indo – Pacific security”, đăng trên CNA strategic studies, 2013, đã phân tích vị trí chiến lược của vùng biển Nhật Bản, những tranh chấp của vùng biển này từ sau chiến tranh Lạnh, đặc biệt là những tranh chấp ở vùng đảo Kuril, Dokdo, Takeshima, vai trò của Mỹ trong việc phối hợp với Nhật Bản giải quyết tranh chấp, chính sách giữ gìn biển đảo của Nhật Bản kể từ sau chiến tranh lạnh. Năm 2007, Nhật Bản đề ra Kế hoạch cơ bản thực hiện chính sách đại dương (Basic Plan on Ocean Policy), Act No33, 2007, Japan.
Trong Kế hoạch này, Nhật Bản nhận thức “Phát triển và sử dụng các đại dương là điều kiện cơ bản và cấp thiết để phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sự đa dạng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường biển để đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người”. Kế 10 hoạch này đã đề ra các biện pháp cơ bản liên quan đến biển, trong đó có cả các biện pháp thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, môi trường, công nghệ…Nhật Bản cũng đề ra tầm nhìn về một nhà nước đại dương, đảm bảo sự giàu có và thịnh vượng thông qua phát triển và sử dụng đại dương, có các biện pháp cụ thể để bảo vệ các vùng biển của mình, tăng cường hợp tác quốc tế trong thực hiện chính sách đại dương. Đây là một văn bản tài liệu quan trọng, cung cấp các chính sách, chiến lược biển cụ thể của Nhật Bản. Tuy nhiên, vì là tài liệu gốc, nên cuốn sách chưa có những quan điểm, đánh giá về hiệu quả của chiến lược biển Nhật Bản đối với quốc gia này và đối với các nước láng giềng và thế giới.
Trong bài viết “Maritime Policy in Japan” (2011), tác giả Habara Keiji đã phân tích các vấn đề hiện tại mà Nhật Bản đang phải đối mặt trong ngành kinh tế biển, đồng thời phân tích những lợi thế và cấu trúc kinh doanh của ngành kinh tế biển, vai trò của biển đối với phát triển kinh tế của Nhật Bản. Bài viết được đăng trên tạp chí Journal of maritime research, số 1, trang 65- 84, Nhật Bản. Thứ ba, nghiên cứu về thực trạng phát triển kinh tế biển của Nhật Bản Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về thực trạng phát triển kinh tế biển của Nhật Bản rất đa dạng. OECD năm 2016 phát hành ấn phẩm “Peer Review of the Japanese shipbuilding Industry”, cho rằng Nhật Bản có tiềm năng trong phát triển các ngành công nghiệp đóng tàu, công nghiệp hàng hải và đã ban hành nhiều chính sách phát triển các ngành công nghiệp này nhằm tăng cường canh tranh quốc tế.
Nghiên cứu của Bingquing Yang (2018) đã phân tích ngành công nghiệp hàng hải và đóng tàu Nhật Bản có sự phát triển tương đối hiệu quả và khả năng cạnh tranh tốt với Trung Quốc. Jonathan Arias trong ấn phẩm “Solar energy, energy storage and virtual power plants in Japan”, tác giả đã phân tích các tiềm năng, chính sách trong phát triển năng lượng tái tạo trên biển của Nhật Bản, những thách thức rủi ro 11 do động đất, sóng thần trong phát triển năng lượng tái tạo. Số liệu của các trang web của chính phủ Nhật Bản đã giúp Nghiên cứu sinh có thêm các luận cứ để đánh giá thực trạng phát triển một số ngành công nghiệp tái tạo trên biển của Nhật Bản.