Chương I: Khung khổ lý thuyết phát triển vùng Chương II: Điều kiện, yếu tố và thực trạng phát triển vùng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chương III: Quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển vùng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020. CHUONG I KHUNG KHỔ LÝ THUYẾT PHÁT TRIEN VUNG 1.1 - MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VÙNG 1.1- Quan niệm về vùng, vùng kinh tế và phân vùng kinh tế 1.1- Vùng "Vùng" là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. "Vùng là một phần của bề mặt trái đất, nó dựa vào một hoặc nhiều loại tiêu chí phân biệt với phần lân cận”, "vùng là một phạm vi xác định nào đó của bề mặt trái đất, "vùng là không gian, là một trong các hình thức tồn tại của vật chất"!.
Trên giác độ quản lý đất nước, vùng được quan niệm là cấp trung gian giữa quốc gia và tỉnh, vùng bao gồm một số tỉnh và một quốc gia có một số vùng. Đôi khi người ta còn sử dụng thêm một cấp trung gian lãnh thổ quốc gia và lãnh thổ vùng gọi là "miền". Trong lịch sử Việt Nam, khái niệm "miền" (Miền Bác, Miền Trung, Miền Nam) là những khu vực đất đai rộng lớn có những đặc điểm địa lý chung nào đó. Các quan niệm và nhận biết vùng tuy khác nhau về mục đích, song về bản chất đều có một nét chung: vùng là một khái niệm không gian, là hình thức kết cấu của vùng đất chiếm một không gian nhất định trên mặt trái đất, dựa vào điều kiện vật chất khác nhau làm đối tượng.
Vùng có các thuộc tính cơ bản như sau: - Một phần của bề mặt trái đất, chiếm không gian nhất định (không gian ba chiều). Một số không gian này có thể là không gian tự nhiên, không gian kinh tế, không gian xã hội. - Có phạm vi và ranh giới nhất định. Phạm vi của nó có thể lớn, có thể nhỏ do căn cứ vào các yêu cầu khác nhau, hệ thống chỉ tiêu khác nhau để phân chia.
Ranh giới của vùng thường có đặc trưng mang tính quá độ, là một "giải đất" biến đổi cả về lượng và chất; ranh giới vùng theo tự nhiên có lúc là đứt đoạn (còn gọi là không liền khoảnh), nhưng phần lớn có tính tính liên tục (liền khoảnh). - Có hình thức kết cấu hệ thống nhất định. Tính phân cấp hoặc tính nhiều cấp, tính phân tầng. Do vậy, vùng có mối quan hệ giữa trên với dưới, dọc và ngang.
Mỗi một vùng nhỏ là một phần hợp thành để tạo nên một vùng lớn hơn. ' Thôi Công Hào, Ngụy Thanh Tuyển, Trần Tôn Hưng: Phân tích vùng và quy hoạch vùng- NXB Đại học TQ năm 2002-Hàn Ngọc Lương dịch.2-Vùng kinh tế “Vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ nguyên vẹn của nên kinh tế quốc dân cả nước, có những dấu hiệu sau: chuyên môn hoá những chức năng kinh tế quốc dân cơ bản; tính tổng hợp: được hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ của vàng., coi vùng như là hệ thống toần vẹn, một đơn vị có tổ chức trong bộ máy quản lý lãnh thổ nên kinh tế quốc dân"! Cơ sở hình thành và phát triển vùng là các yếu tố tạo vùng, trong đó yếu tố tiền đề là phân công lao động theo lãnh thổ. Sự phân công lao động theo ngành đã kéo theo quá trình phân công lao động theo lãnh thổ. Yếu tố phân công lao động xã hội theo lãnh thổ là yếu tố lý giải quá trình tạo vùng.
Vùng là nơi tụ cư của loài người với các hoạt động kinh tế đa dạng, đòi hỏi phải tìm biểu và tiến hành nghiên cứu sâu sắc, hệ thống và toàn điện đối với vùng. Vùng kinh tế- xã hội là: “một bộ phận lớn của lãnh thổ quốc gia có các hoạt động kinh tế - xã hội tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nước. Đây là loại vùng có quy mô diện tích, dân số ở cấp lớn nhất, phục vụ việc hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng của đất nước "2 1.3-Phân vùng kinh tế Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ đất nước ra những đơn vị đồng cấp, phục vụ cho một mục đích nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, nên khó có thể có một sự phân vùng khách quan "tuyệt đối và vĩnh viễn". Nếu ta hiểu "vùng" là một thực thể khách quan thì phân vùng là sản phẩm của tư duy khoa học dựa trên một số chỉ tiêu và phương pháp mà người nghiên cứu, người quản lý lựa chọn để phân định vùng.
Phân vùng là một loại hệ thống hoá theo lãnh thổ, nó cùng với phân vị, phân loại, phân nhóm, phân kiểu giúp người nghiên cứu khái quát được một số nét về một không gian nào đó, từ đó có những dự báo cho không gian đó. Khi tiến hành phân vùng kinh tế, phải nghiên cứu sự xuất hiện và quy luật vận động của các yếu tố tạo vùng khách quan. Trên cơ cở đó, thông qua những nguyên tắc, quan điểm nhất định vạch ra hệ thống các vùng với cơ cấu sản xuất và cơ cấu lãnh thổ nhất định. ' Địa lý kinh tế-xã hội.
Từ điển thuật ngữ, khái niệm. của Alaev,1983, MOSCOW ? Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội : Một số vấn để lý luận và thục tiễn - Viện Chiến lược phát triển.NXB Chính trị Quốc gia, năm 2004. 10 Trong sự đổi mới về kế hoạch hoá ở bối cảnh của một nước đang phát triển, cộng với những biến đổi về kinh tế, khoa học kỹ thuật của thế giới có ảnh hưởng đến phân vùng kinh tế; việc xác định cấp vùng cùng với những lý luận về phân vùng và thực tiễn tồn tại các vùng đã và đang bổ sung hoàn thiện thêm về nhận thức vấn đề vùng. Việc xác định cấp vùng để nghiên cứu cơ cấu lãnh thổ kinh tế quốc dân ở mỗi quốc gia trong bối cảnh kinh tế thị trường, cần có tính thực tiễn hơn để có phù hợp với những đặc thù vùng và trong bối cảnh hội nhập kinh tế.
Có 2 cách phân vùng để xác định các vùng cho phát triển kinh tế- xã hội và tổ chức lãnh thổ: Cách thứ nhất: Phân ngang theo lưu vực sông, theo ranh giới các vùng hành chính kinh tế. Cách phân vùng này gần phù hợp với phương pháp phân vùng tổng hợp kinh tế- xã hội của nước ta hiện nay. Mỗi vùng bao gồm cả tiểu vùng núi cao, tiểu vùng trung du, tiểu vùng đồng bằng và ven biển. Cách thứ hai: Phân theo các dải lãnh thổ có địa hình giống nhau như dải đồng bằng và ven biển, dải trung du và cao nguyên, dai núi cao và biên giới.
Quan niệm về phát triển bền vững theo vùng Phát triển bền vững là sự phát triển mang tính tổng hợp với mục tiêu rõ ràng là vì con người, không chỉ là sự mở rộng cơ hội lựa chọn cho thế hệ hôm nay mà còn không được làm tổn hại đến những cơ hội lựa chọn của các thế hệ mai sau. Sự bển vững của phát triển được thể hiện cả ở khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Đó là quá trình gia tăng phúc lợi cho các thế hệ con người bằng cách gia tăng tài sản, bao gồm tài sản vật chất, tài sản tài chính, tài sản con người, tài sản môi trường (nước sạch, không khí sạch, bãi cá, rừng cây, đất đai.) và tài sản xã hội (sự tin cậy lẫn nhau, khả năng liên kết, sự đảm bảo an ninh cho người và tài sản. Trong thực tiễn, mỗi quốc gia để đảm bảo phát triển bền vững phải giải quyết 3 môi quan hệ: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo các vấn xã hội; Tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo môi trường trong sạch; Tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo quốc phòng, an ninh an toàn xã hội.
Phát triển bền vững trong phát triển vùng bao gồm: - Phát triển bền vững vẻ kinh tế: thể hiện phát triển có hiệu quả các nguồn lực hiện có của mỗi vùng, tăng quy mô của GDP, (go ra sự chuyển dịch mạnh mế cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. - Phát triển bền vững về xã hội: biểu hiện ở đời sống tinh thân được nâng lên không ngừng về bảo đảm dịch vụ y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, bình đẳng cơ hội việc làm, bình đẳng thu nhập hưởng thụ cho mọi tầng lớp dân cư của các vùng lãnh thổ. 11 - Phát triển bền vững môi trường: Bảo đảm khai thác tài nguyên hợp lý, giảm thiểu lãng phí tài nguyên gây suy thoái; phát triển kinh tế-xã hội luôn gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái. Phát triển bền vững bao hàm cả phát triển kinh tế - xã hội phải đảm bảo sức chứa hợp lý của lãnh thổ, nếu không sẽ dẫn đến sự quá tải trong phát triển, phát triển "nóng", phá vỡ hệ thống lãnh thổ về môi trường - bố trí sản xuất - bố trí dân cư.
Yêu cầu về đảm bảo sức chứa vùng là khi đưa các hoạt động sản xuất, địch vụ, lao động đân cư vào vùng phải được tính toán khđ năng sức chứa hợp lý về các điều kiện: cấp nước, đất đai cho xây dựng, môi trường, sinh thái.Bố trí sản xuất phải được chọn lựa, cân nhắc nhằm tạo ra sự hài hoà, thông thoáng. Mội lãnh thổ phát triển quá dày đặc sẽ bị kìm hấm phát triển. Quan niệm về CNH, HĐH rút ngắn theo vùng Văn kiện Đại hội Đảng IX, có đưa ra khái niệm về công nghiệp hoá rút ngắn. Về bản chất của vấn đề này có thể hiểu là sự phát triển rút ngắn thời gian của tiến trình CNH,HĐH, không đi theo con đường tuần tự cổ điển mà có thể "bắt kịp", "vượt trước" các nước về một số khâu, một số mặt cơ bản của tiến trình CNH,HĐH; từ "rút ngắn" ở đây đồng nghĩa với phát triển nhanh để giảm thiểu thời gian đạt tới mục tiêu của CNH,HĐH.
Nếu cách hiểu chung về CNH,HĐH rút ngắn như trên là đúng thì sự rút ngắn tiến trình CNH,HĐH theo vùng lãnh thổ chính là sự phát triển không đàn đều, không tuần tự các vùng mà mỗi lãnh thổ theo đặc điểm và thế mạnh riêng của mình, có thể có những bước đột phá, nhảy vọt về tăng trưởng và tổng hoà lại, cả nước có một sự phát triển nhanh nhất, rút ngắn tiến trình CNH,HĐH.