CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 1. LÝ LUẬN VỀ TRANG TRẠI VÀ KINH TẾ TRANG TRẠI 1. Một số khái niệm 1. Trang trại Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ để biểu đạt loại hình kinh tế này như: Ferme (tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh),… khi chuyển sang tiếng Việt được dịch là trang trại hay nông trại.
Trong từ điển Tiếng Việt, trang trại được hiểu một cách khái quát là: “Trại lớn sản xuất nông nghiệp” [26]. Ở Việt Nam, trang trại được hiểu là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Trang trại được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi từ bỏ sản xuất tự cung tự cấp khép kín, vươn lên sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh. Ngoài ra, qua thực tiễn cho thấy lĩnh vực hoạt động của trang trại không chỉ bó hẹp trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, mà còn mở rộng thêm một số hoạt động kinh doanh dịch vụ hỗ trợ các yếu tố đầu vào, đầu ra và các hoạt động chế biến nhằm tăng thu nhập.
Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học trang trại được nhìn nhận với nhiều quan điểm khác nhau, nhưng chúng đều có những điểm chung như sau: Trong cuốn giáo trình Kinh tế nông nghiệp do Vũ Đình Thắng chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân đã đưa ra khái niệm về trang trại “là một hình thức tổ chức sản xuất tập trung trong nông, lâm, thủy sản với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, có quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý hiện đại” [17]. 5 van Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm nghiệp và thủy sản phổ biến được hình thành trên cơ sở phát triển kinh tế hộ, nhưng ở vào giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý cao hơn, mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt. Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phương như đất đai, nguồn vốn, lao động. Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường [14].
Theo tác giả Trần Hai "Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính và đáp ứng nhu cầu cho xã hội" [12]. Tóm lại qua những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên có thể hiểu: Trang trại là cơ sở sản xuất trong nông, lâm nghiệp và thủy sản gắn với hộ gia đình nông dân, là hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập. Sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất, các yếu tố sản xuất tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường. Kinh tế trang trại Kinh tế trang trại là một khái niệm không còn mới với các nước kinh tế phát triển và đang phát triển.
Song đối với nước ta đang còn là một vấn đề mới, do nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên việc nhận thức chưa đầy đủ về kinh tế trang trại là điều không thể tránh khỏi. Thời gian qua các lý luận về kinh tế trang trại đã được các nhà khoa học trao đổi trên các diễn đàn và các phương tiện thông tin đại chúng. Song cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau các nhà khoa học lại đưa ra các khái niệm khác nhau về kinh tế trang trại. Thực tế hiện nay hai khái niệm “trang trại” và “kinh tế trang trại” nhiều trường hợp được sử dụng như những khái niệm đồng nhất, nhưng thực chất không phải vậy.
Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan 6 van hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó [15]. Theo Lê Trọng: "Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định, được chủ trang trại tổ chức trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ" [19]. Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, ngày 02/02/2000 của Chính phủ ban hành đã nêu rõ: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”[10]. Có thể hiểu như sau: Kinh tế trang trại là loại hình kinh tế sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, phát triển chủ yếu trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về vốn và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm hàng hóa từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường.
Đặc trưng của trang trại Căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại và các văn bản hướng dẫn thi hành, cũng như thực trạng hình thành và phát triển của trang trại thời gian qua, có thể thấy trang trại ở Việt Nam có một số đặc trựng cơ bản sau: - Mục đích chủ yếu của trang trại là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường.[18] Kinh tế trang trại đi lên từ kinh tế hộ nông dân, trong quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình đã vượt qua được giai đoạn tự cung tự cấp, vươn lên sản xuất hàng hóa nông, lâm, thủy sản bán ra thị trường nhằm thu lợi nhuận. 7 van Đây là đặc điểm quan trọng nhất của trang trại. Tỷ suất hàng hóa càng cao thể hiện bản chất và trình độ phát triển của trang trại. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy tiêu chí giá trị nông sản hàng hóa và tỷ suất hàng hóa bán ra trong năm luôn luôn được sử dụng làm thước đo chủ yếu của trang trại.
Sản xuất nông nghiệp theo kiểu truyền thống tự cung, tự cấp chỉ giải quyết nhu cầu của chính người sản xuất, lượng sản phẩm dư thừa đem bán trên thị trường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với khối lượng nông sản mà họ sản xuất ra. Các hộ nông dân cũng cố gắng bán bất kỳ thứ nông sản nào do chính bản thân họ sản xuất ra giai đoạn này gọi là thương mại hóa sản phẩm. Sau đó hộ nông dân sản xuất ra hàng hóa theo yêu cầu của thị trường đó là giai đoạn sản xuất hàng hóa của hộ đã đạt đến một cấp độ cao hơn, một bộ phận nông dân đã phát triển đến hình thức sản xuất theo mô hình trang trại. Đặc trưng sản xuất hàng hóa là đặc trưng quan trọng nhất, bởi vì mục đích sản xuất hàng hóa chi phối và ảnh hưởng rất lớn, thậm chí quyết định tới tất cả đặc trưng khác của trang trại.
Đặc trưng về mục đích sản xuất hàng hóa có thể biểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu như giá trị sản xuất hàng hóa tạo ra trong một năm của trang trại; tỷ suất hàng hóa của trang trại. - Trong trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá. Trong nông nghiệp cũng như trong các ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tập trung với quy mô nào đó. Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong nông nghiệp.
Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiêp. Tuy nhiên phải có tích tụ tập trung ruộng đất đến một mức độ nào đó thì mới có sản xuất hàng hóa. Phải đạt tới một quy mô tối thiểu nào đó thì mới có thể bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh. Đặc điểm này được quy định bởi chính đặc điểm về mục đích sản xuất của trang trại.
Tuy nhiên trong điều kiện khí hậu bình thường, năng lực sản xuất của đất đai phụ thuộc vào trình độ thâm canh, vào tiến bộ 8 van khoa học kỷ thuật được áp dụng trong nông nghiệp. Vì vậy điều kiện về quy mô kinh doanh đất đai để hình thành trang trại cũng có thể thay đổi theo thời gian. Sự tập trung về tài sản tiền vốn cũng là điều tối quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển của các trang trại. Sản xuất kinh doanh hàng hóa đòi hỏi phải có lượng vốn ban đầu nhất định để đầu tư các khoản chi phí đầu vào.
Do đó, ở các trang trại sản xuất hàng hoá chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất,. được tập trung tới quy mô đủ lớn. - Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Người chủ độc lập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Người chủ trang trại là người nắm giữ một phần hoặc toàn phần về quyền sở hữu tài sản nếu như nắm quyền sử dụng tài sản, thì tài sản này có thể được hình thành dưới hình thức vốn góp hoặc đi thuê tài sản tài chính, như vậy xét dưới góc độ là tài sản của trang trại thì tài sản dù được hình thành bằng cách nào nó vẫn thuộc quyền sử dụng của trang trại, có thể tạo ra lợi ích về kinh tế trong tương lai.