Luận án tiến sĩ xã hội học quản lý xã hội ở nông thôn việt nam hiện nay qua nghiên cứu chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh thanh hóa

Luận án tiến sĩ nghiên cứu xã hội học quản lý xã hội ở nông thôn việt nam hiện nay qua nghiên cứu chương trình xây dựng nông, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

215
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI VÀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1. Nghiên cứu về nông thôn mới ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.2. Nghiên cứu quản lý xã hội ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.3. Nghiên cứu quản lý xã hội trong chương trình xây dựng nông thôn mới

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1. Một số khái niệm - công cụ tiếp cận nghiên cứu của đề tài

2.2. Một số lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu luận án

2.3. Một số quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý xã hội và xây dựng nông thôn mới

2.4. Kinh nghiệm quản lý xã hội và xây dựng nông thôn mới ở một số quốc gia trên thế giới

2.5. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

3.1. Chủ thể quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới

3.2. Nội dung quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới

3.3. Công cụ quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới

3.4. Mục tiêu và kết quả quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới

4. CHƯƠNG 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH THANH HÓA

4.1. Quản lý xã hội ở nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa những nhân tố tác động

4.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở Thanh Hóa

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Xã Hội Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới

Quản lý xã hội (QLXH) đóng vai trò then chốt trong quá trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM), đặc biệt tại các địa phương như Thanh Hóa. Đây là phương thức quản lý kết hợp hài hòa giữa quản lý nhà nước và tự quản cộng đồng. Mục tiêu là phát huy yếu tố tích cực và hạn chế bất cập của cả hai hình thức. Xây dựng nông thôn mới không chỉ là nâng cao cơ sở hạ tầng, mà còn là giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. QLXH hiệu quả góp phần vào sự phát triển bền vững, toàn diện của khu vực nông thôn. Việc chậm đổi mới tư duy và hành động về QLXH, chưa xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, cùng với nguồn lực và công nghệ còn hạn chế, đang là những thách thức cần vượt qua. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ưng, cần có hệ thống lý luận khoa học, đồng bộ về QLXH để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0.

1.1. Tầm quan trọng của quản lý xã hội trong phát triển nông thôn

Quản lý xã hội (QLXH) giữ vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển nông thôn, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Vai trò của QLXH trong việc điều phối các nguồn lực, đảm bảo sự tham gia của cộng đồng, và giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát triển là không thể phủ nhận. Theo tác giả Nguyễn Thị Ưng trong luận án tiến sĩ của mình nhấn mạnh vai trò của QLXH trong việc phát huy tính tự quản của cộng đồng, đồng thời đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, tạo nên sự hài hòa và hiệu quả trong XDNTM.

1.2. Thực trạng quản lý xã hội tại các vùng nông thôn Việt Nam

Thực tế cho thấy, QLXH ở nông thôn Việt Nam còn nhiều bất cập. Mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và tự quản cộng đồng chưa thực sự bền chặt, thậm chí còn xảy ra xung đột. Sự tham gia của các chủ thể như hệ thống chính trị, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân chưa đồng đều và hiệu quả. Cần có phương thức QLXH mới, kết hợp biện chứng giữa quản lý nhà nước và tự quản cộng đồng, để đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển đất nước. Điều này đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy và hành động, cũng như sự đầu tư về nguồn lực và công nghệ.

II. Thách Thức Quản Lý Xã Hội Xây Dựng Nông Thôn Mới Thanh Hóa

Mặc dù xây dựng nông thôn mới ở Thanh Hóa đã đạt được những thành tựu đáng kể, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức trong quản lý xã hội. Một số tổ chức Đảng, chính quyền, và các tổ chức chính trị xã hội chưa nhận thức đầy đủ vai trò của nông nghiệp, nông dân, và nông thôn. Quyền làm chủ của nông dân đôi khi bị vi phạm, và thành quả XDNTM chưa được bảo vệ để đảm bảo sự phát triển bền vững. Vấn đề môi trường nông thôn chưa đạt tiêu chí bền vững, và mức độ phân hóa xã hội, chênh lệch về mức sống giữa các hộ gia đình, địa phương, và vùng miền đang gia tăng. Để giải quyết những thách thức này, cần tiếp cận chương trình XDNTM từ góc độ QLXH, đồng thời có cơ sở khoa học, lý thuyết, và bằng chứng cho các vấn đề trên.

2.1. Nhận thức và thực thi chính sách nông thôn mới tại Thanh Hóa

Một trong những thách thức lớn nhất là sự chưa đồng đều trong nhận thức và thực thi chính sách về XDNTM ở các cấp chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội tại Thanh Hóa. Điều này dẫn đến việc thực hiện các mục tiêu và tiêu chí của chương trình một cách hình thức, thiếu chiều sâu và không thực sự mang lại lợi ích cho người dân nông thôn. Cần có sự tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc thực hiện chính sách nông thôn.

2.2. Vấn đề dân chủ ở cơ sở và sự tham gia của người dân nông thôn

Việc đảm bảo dân chủ ở cơ sở và tăng cường sự tham gia của người dân nông thôn vào quá trình XDNTM là một thách thức không nhỏ. Trên thực tế, quyền làm chủ của người dân vẫn chưa được đảm bảo đầy đủ, và sự tham gia của họ còn mang tính hình thức. Để khắc phục tình trạng này, cần có các cơ chế và chính sách để khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tham gia một cách chủ động và thực chất vào việc xây dựng và giám sát các công trình, dự án nông thôn mới.

2.3. Bất cập trong quản lý môi trường nông thôn Thanh Hóa

Vấn đề quản lý môi trường ở khu vực nông thôn Thanh Hóa còn tồn tại nhiều bất cập, ảnh hưởng đến tính bền vững của chương trình XDNTM. Nhiều địa phương chưa chú trọng đến việc bảo vệ môi trường, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí. Cần có các giải pháp đồng bộ để tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của khu vực nông thôn Thanh Hóa.

III. Giải Pháp Nâng Cao Quản Lý Xã Hội Xây Dựng Nông Thôn Mới

Để nâng cao hiệu quả quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới, cần có giải pháp đồng bộ. Cần tăng cường năng lực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cơ sở, phát huy vai trò chủ động của người dân. Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể tham gia XDNTM. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp, đảm bảo nguồn lực và công nghệ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ưng, việc đổi mới tư duy, tầm nhìn, và cách làm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở là yếu tố then chốt để thực hiện QLXH hiệu quả. Cần xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá khách quan, minh bạch để đảm bảo tính bền vững của chương trình.

3.1. Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp cơ sở

Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp cơ sở là yếu tố quan trọng để cải thiện QLXH trong XDNTM. Cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản lý, và phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ này. Đồng thời, cần có cơ chế đánh giá và khen thưởng, kỷ luật công bằng, minh bạch để khuyến khích cán bộ làm việc hiệu quả và trách nhiệm.

3.2. Phát huy vai trò tự quản của cộng đồng trong xây dựng nông thôn

Phát huy vai trò tự quản của cộng đồng là một trong những giải pháp quan trọng để đảm bảo tính bền vững của chương trình XDNTM. Cần tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình lập kế hoạch, thực hiện, và giám sát các dự án, công trình nông thôn mới. Đồng thời, cần hỗ trợ cộng đồng xây dựng các quy ước, hương ước để quản lý và bảo vệ các nguồn lực tự nhiên, cũng như duy trì trật tự an ninh xã hội.

3.3. Hoàn thiện chính sách và pháp luật về xây dựng nông thôn mới

Để QLXH hiệu quả cần hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về XDNTM. Các chính sách cần đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Cần có cơ chế giám sát chặt chẽ việc thực thi chính sách để đảm bảo hiệu quả và tránh tình trạng tham nhũng, lãng phí. Chính sách cần chú trọng đến các vấn đề xã hội như giải quyết việc làm, giảm nghèo, và bảo vệ môi trường.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Quản Lý Xã Hội Tại Nông Thôn Mới Thanh Hóa

Việc quản lý xã hội được ứng dụng thực tiễn thông qua các hoạt động khảo sát nhu cầu, xây dựng kế hoạch thực hiện các tiêu chí XDNTM. Biểu đồ 3.1 cho thấy hiệu quả QLXH trong khảo sát nhu cầu. Các chủ thể tích cực tham gia kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách của cấp ủy, chính quyền các cấp đóng vai trò quan trọng trong quản lý. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của XDNTM. Tăng cường tính minh bạch, công khai, và sự tham gia của người dân trong quá trình quản lý.

4.1. Mô hình quản lý xã hội hiệu quả tại một số xã điểm Thanh Hóa

Nghiên cứu và nhân rộng các mô hình QLXH hiệu quả tại một số xã điểm ở Thanh Hóa là một giải pháp thiết thực. Các mô hình này cần được xây dựng dựa trên cơ sở thực tế của địa phương, có sự tham gia của cộng đồng và được đánh giá, điều chỉnh thường xuyên. Các yếu tố thành công của mô hình cần được phân tích và chia sẻ để các địa phương khác có thể học hỏi và áp dụng.

4.2. Đánh giá tác động của quản lý xã hội đến đời sống người dân

Việc đánh giá tác động của QLXH đến đời sống người dân là rất quan trọng để xác định hiệu quả của chương trình XDNTM. Các chỉ số đánh giá cần bao gồm cả các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Kết quả đánh giá cần được công bố công khai và sử dụng để điều chỉnh chính sách và giải pháp cho phù hợp.

V. Nghiên Cứu Kết Quả Quản Lý Xã Hội Trong Xây Dựng Nông Thôn

Luận án của Nguyễn Thị Ưng đã nghiên cứu kỹ lưỡng kết quả quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mớiThanh Hóa. Nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh như chủ thể quản lý, nội dung quản lý, công cụ quản lý, mục tiêu, kết quả, và hạn chế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, QLXH đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của chương trình XDNTM. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cơ sở, phát huy vai trò chủ động của người dân, và xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể.

5.1. Phân tích định lượng về sự hài lòng của người dân với quản lý xã hội

Sự hài lòng của người dân là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả của QLXH trong XDNTM. Các cuộc khảo sát định lượng cần được thực hiện thường xuyên để thu thập thông tin về mức độ hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công, các chính sách xã hội, và môi trường sống. Kết quả khảo sát cần được phân tích kỹ lưỡng và sử dụng để cải thiện QLXH.

5.2. Đánh giá sự thay đổi trong đời sống văn hóa xã hội nông thôn

Một trong những mục tiêu quan trọng của XDNTM là nâng cao đời sống văn hóa xã hội ở khu vực nông thôn. Cần có các nghiên cứu để đánh giá sự thay đổi trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, và các hoạt động cộng đồng. Kết quả đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh các chính sách và giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng một xã hội nông thôn văn minh, hiện đại.

VI. Tương Lai Của Quản Lý Xã Hội Xây Dựng Nông Thôn Mới Thanh Hóa

Tương lai của quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mớiThanh Hóa phụ thuộc vào sự đổi mới sáng tạo, tư duy đột phá, và trách nhiệm của các cấp lãnh đạo. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, và cơ chế quản lý để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển. Đồng thời, cần tăng cường đầu tư vào nguồn nhân lực, công nghệ, và các dịch vụ công để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn. Theo tác giả Nguyễn Thị Ưng, QLXH cần được tiếp cận một cách tổng thể, bao trùm, và dựa trên cơ sở khoa học, lý thuyết, và bằng chứng để đảm bảo sự phát triển bền vững.

6.1. Định hướng phát triển quản lý xã hội theo hướng bền vững

Phát triển QLXH theo hướng bền vững là mục tiêu lâu dài của chương trình XDNTM. Điều này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Cần có các giải pháp để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình ra quyết định và chia sẻ lợi ích từ sự phát triển.

6.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý xã hội ở nông thôn

Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) là một xu hướng tất yếu trong QLXH hiện nay. CNTT có thể giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí, và tăng cường tính minh bạch. Cần có các chương trình để đào tạo kỹ năng CNTT cho cán bộ và người dân nông thôn, đồng thời xây dựng các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu để phục vụ cho công tác quản lý và điều hành.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý xã hội và chương trình xây dựng nông thôn mới Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 3: Nhận diện quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới Chương 4: Các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa. 12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI VÀ CHƢƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. NGHIÊN CỨU VỀ NÔNG THÔN MỚI Ở MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Nghiên cứu nông thôn, xây dựng nông thôn mới ở một số nƣớc trên thế giới Xây dựng nông thôn mới nói riêng và phát triển khu vực: nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một vấn đề quan trọng đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm.

Đặc biệt là các quốc gia có cùng hoàn cảnh tương đồng với Việt Nam, như: Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Lào… Đáng chú ý là các nghiên cứu về XDNTM ở Trung Quốc và ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Đây là những quốc gia có sự tương đồng về bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội với Việt Nam. Luận án tiến sĩ của tác giả Bun-ThoongChít-ma-ni (2011), Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo XDNTM trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, tác giải Luận án nêu đặc điểm của nông thôn Lào, qua phương thức Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM; rút ra những kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp có tính đặc thù, khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong việc xây dựng NTM hiện nay [169, tr.

Tại Trung Quốc, theo xu hướng này có thể kể đến các nghiên cứu của Trác Vệ Hoa (2008), "Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc 30 năm". Bài viết của tác giả khẳng định: Cần phải ra sức thúc đẩy cải cách sáng tạo, tăng cường xây dựng chế độ ở nông thôn, tạo động lực lớn mạnh và sự bảo đảm về chế độ cho phát triển nhịp nhàng kinh tế, xã hội thành thị và nông thôn. Xây dựng chế độ có tính căn bản, tính toàn cục, tính lâu dài, có ý nghĩa to lớn và sâu xa đối với việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nông thôn, thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc. Ra sức phát triển nền nông nghiệp hiện đại, nâng cao hiệu quả đầu ra đất đai, hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng suất lao động của nông nghiệp, tăng cường năng lực chống chọi rủi ro, năng lực cạnh tranh quốc tế, năng lực phát triển bền vững của nông nghiệp [187].

Khi nghiên cứu về vấn đề XDNTM ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… bên cạnh các tác giả là người nước ngoài còn có thể kể đến các tác giả là người Việt Nam. Những nghiên cứu này có đặc điểm chung là đặt trong mối liên hệ, bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể áp dụng: 13 Nguyễn Xuân Cường (2009), "Nông thôn Trung Quốc - chặng đường 30 năm cải cách". Tác giả khẳng định: cải cách nông thôn đã mở màn cho tiến trình cải cách mở cửa của Trung Quốc. Qua 30 năm, đất nước Trung Quốc không ngừng tìm tòi, thử nghiệm, phát triển nông thôn và đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện.

Tuy nhiên, "tam nông" vẫn là khâu yếu trong tiến trình cải cách của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc coi xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa (XHCN) là nhiệm vụ chiến lược, là khởi điểm cho tiến trình cải cách giai đoạn mới ở Trung Quốc [188]. Khánh Phương (2017), "Xây dựng NTM - kinh nghiệm của một số nước châu Á". Tác giả khẳng định: Xây dựng NTM luôn là vấn đề được quan tâm ở tất cả các nước và tùy theo điều kiện của mỗi nước để có cách giải quyết hiệu quả.

Kinh nghiệm phát triển NTM của một số quốc gia trên thế giới mà Việt Nam có thể tham khảo đó là: Nhật Bản - coi trọng phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp; Thái Lan - phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân; Hàn Quốc - phong trào có phong trào "Cộng đồng Mới" [189, tr. Hoàng Bá Thịnh (2016), "Xây dựng NTM ở Hàn Quốc và Việt Nam". Tác giả viết: Ở Hàn Quốc, từ những năm 1970 đã tiến hành phong trào Saemaul Undong (Làng mới). Từ đó, Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu vô cùng ấn tượng, có sức lan tỏa và ảnh hưởng quốc tế.

Chương trình XDNTM ở Việt Nam diễn ra trong 5 năm trở lại đây và có những thành công bước đầu. Bài viết phân tích, so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa phong trào Làng mới của Hàn Quốc và chương trình xây dựng NTM của Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực hiện Chương trình NTM trong những năm tiếp theo ở Việt Nam [143, tr. Nguyễn Thành Lợi (2013), "Xây dựng NTM của Nhật Bản và một số gợi ý cho Việt Nam". Tác giả liệt kê các giai đoạn XDNTM ở Nhật Bản thành 3 giai đoạn.

Trong phong trào xây dựng làng xã ở Nhật Bản, nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng lớn nhất đến các nước châu Á là phong trào "mỗi làng một sản phẩm"do Giáo sư Hiramatsu Morihiko, Chủ tịch tỉnh Oita khởi xướng năm 1979 [206]. Hồ Quế Hậu (2014), "So sánh XDNTM giữa ba nước Trung Quốc - Hàn Quốc - Việt Nam". Tác giả bài viết khẳng định: nếu Hàn Quốc thực thi XDNTM theo mô hình chính sách mềm và từ dưới lên, nhà nước chỉ có định hướng chung và trong tổ chức thực hiện quan tâm nhiều đến vai trò đóng góp nguồn lực, công sức, sáng kiến, quản lý của người dân và cơ sở thì Trung Quốc, Việt Nam thực hiện mô hình chính sách cứng và từ trên xuống; chủ yếu phát huy thế mạnh của sự định hướng chiến 14 lược, quản lý, nguồn lực tập trung thống nhất từ phía Nhà nước từ cấp trung ương xuống bằng các tiêu chí, chỉ tiêu, chuẩn mực, chế độ, thủ tục cụ thể [45, tr. Phạm Đi (2015), "Chương trình "Chấn hưng nông thôn" của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam",.

Tác giả viết: Chính phủ Nhật Bản chủ trương vận động chương trình "Chấn hưng nông thôn", kèm theo đó là nhiều giải pháp, cách làm khác nhau trong từng giai đoạn nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong tiến trình công nghiệp hóa (CNH), đô thị hóa mà cụ thể là chênh lệch nông thôn - đô thị ngày càng gay gắt, từng bước phát triển hài hòa nông thôn - đô thị [191, tr. Tuấn Anh (2012), "Kinh nghiệm XDNTM ở một số nước trên thế giới". Tác giả cho rằng: Phát triển ngành nông nghiệp để xây dựng một NTM trong giai đoạn hiện nay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học bổ ích cho Việt Nam chúng ta.

Cường quốc kinh tế số một thế giới - nước Mỹ: phát triển ngành "kinh doanh nông nghiệp". Nhật Bản: "Mỗi làng một sản phẩm". Hàn Quốc: Phong trào Làng mới. Thái Lan: sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước [192].

Ngoài ra có thể kể đến tác giả trong và ngoài nước như: Nguyễn Thị Bích Phương, Đặng Thị Thanh Thủy (2015), "Huy động sự tham gia và giám sát của cộng đồng trong XDNTM của Hàn Quốc - Bài học chính sách cho Việt Nam" [193]; Yuen, Samson (2014), "China's new rural land reform? Assessment and prospects" [171]; Neil Argent, Thomas Measham (2014), "New rural economies: Introduction to the special themed issue" [172]; Open fields: Parvin, Alastair (2013) "The new rural design revolution" [173]; Jia'en, Pan; Jie, Du (2011), "The social economy of new rural reconstruction" [175]; Zhao Yanan Sun Qingzhu (2011), "Research on the construction about evaluation index system on new rural service system of fitness for all" [176]; Yi Wu (2011), "Research on the transference of the surplus rural labor in new rural construction" [177]; Li Junfeng, Niu Jiangao (2011), "Study on the demand of agricultural science and technology in new rural construction" [178]; Lei Fang, XiaoMei Zhang (2011), "Comparison and research on new rural community management patterns of shan dong province" [179]; Zhao, Li (2011), "Understanding the new rural co-operative movement: towards rebuilding civil society in China" [180]'; M.Ortiz-Miranda, Dionisio; Moreno-Perez, Olga (2010), "Innovative strategies of agricultural cooperatives in the framework of the new rural development paradigms: the case of the Region of Valencia (Spain)" [181]; Huang Hui (2009), "The strategy, model and culture sense of informatization during the process of new rural construction" [182]. Một số xu hƣớng nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam Chủ đề nghiên cứu khoa học về XDNTM ở Việt Nam mới được bắt đầu khi Đảng ta có chủ trương xây dựng Đề án "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM". Chủ đề này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học: xã hội học, chính trị học, kinh tế học, triết học, xây dựng Đảng… theo các hướng nghiên cứu như sau: Thứ nhất, nhóm các nghiên cứu tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản của chương trình XDNTM ở Việt Nam phải kể đến các tác giả: Trần Minh Yến (2013), Xây dựng NTM-Khảo sát và đánh giá. Tác giả đã khẳng định: XDNTM là một chương trình quốc gia rộng lớn được triển khai trên phạm vi cả nước.

Sau thời gian thực hiện thí điểm, chương trình đã đạt được một số kết quả nhất định. Song, vẫn cần phải có sự khảo sát, đánh giá nghiêm túc để góp phần giải đáp một số hạn chế được đặt ra [164]. Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Thị Huệ (2014), Việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình XDNTM ở thủ đô Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Kinh tế; Bùi Tất Thắng (2011), "Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong XDNTM", Tạp chí Xã hội học, số 3; Nguyễn Ngọc Hà (2012), "Đặc điểm kinh tế vùng và những vấn đề đặt ra trong XDNTM", Tạp chí Lý luận chính trị, số 2; Trần Tiến Khai (2015), Phát triển nông thôn bền vững cho Việt Nam: Nhìn từ lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế, Nxb Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Hoàng Mỹ Hạnh (2015), Đẩy mạnh chương trình XDNTM ở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội…[76; 136].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản Lý Xã Hội Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Thanh Hóa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của quản lý xã hội trong việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thanh Hóa. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong quá trình phát triển nông thôn, từ đó tạo ra những lợi ích thiết thực cho người dân. Độc giả sẽ tìm thấy những chiến lược và phương pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững trong khu vực nông thôn.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ kinh tế giải pháp góp phần hoàn thiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang, nơi cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn từ các xã thí điểm. Ngoài ra, tài liệu Luận văn đánh giá kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Quỳnh Sơn huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2015 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hiệu quả của chương trình trong một bối cảnh cụ thể. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng nghiên cứu nâng cao chất lượng công trình giao thông và thủy lợi trong chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố hạ tầng trong xây dựng nông thôn mới. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về quản lý xã hội và phát triển nông thôn.