CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Một số khái niệm 1.1 Làng nghề Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế, xã hội của nước ta. Làng nghề đóng vai trò tích cực đến phát triển kinh tế và xã hội của nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn ở nước ta. Vì vậy, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đưa ra nhiều khái niệm về làng nghề. Các khái niệm làng nghề này nhìn chung có nhiều điểm tương đồng với nhau và được tóm tắt như sau: Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, có phó cả.
cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu đuợc bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công (Trần Quốc Vượng, 2002). Quan niệm này đúng với làng nghề truyền thống, song đối với làng nghề nói chung lại còn bất cập bởi đối với những làng nghề mới hoạt động, yêu cầu nổi trội nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp,. là điều khó thực hiện. Quan niệm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập.
Ví dụ như: “Làng nghề là những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” (Mai Thế Hởn và cs., 2003), hay trong Dự thảo Nghị định của Chính Phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ NN &PTNT đệ trình tháng 5-2005 thì: “Làng nghề là thôn, ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng”, v. Các định nghĩa này đã khắc phục nhược điểm của quan niệm thứ nhất, quan tâm đến phải có tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề và việc cố định những tiêu chí trong khái niệm sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi chế độ ưu đãi đối với làng nghề thay đổi thì phải chăng khái niệm cũng thay đổi. 8 Quan niệm thứ ba: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” (Dương Bá Phượng, 2001). Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là “làng” và “nghề”, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan niệm thứ hai, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ nhất.
Thuật ngữ làng nghề được tạo thành bởi hai chủ thể “làng” và “nghề”. Nghề được đề cập ở đây là nghề TTCN được tiến hành trong phạm vi làng và gắn với làng. Có thể hiểu một cách giản đơn làng nghề là làng có hoạt động TTCN. Tuy vậy, không phải quy mô của nghề ở bất cứ mức độ nào thì làng cũng được gọi là làng nghề.
Làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động TTCN đủ lớn đến mức độ nào đó và mang tính ổn định. Như vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện cả về định tính và định lượng. Định tính của làng nghề thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng thuần nông (hoặc có ngành nghề phụ quy mô nhỏ) hoặc với phố nghề ở thành thị. Định lượng của khái niệm làng nghề là chỉ rõ làng nghề đạt đến quy mô nào và tính ổn định ra sao.
Vì có điểm xuất phát là làng gắn với nông nghiệp nên khi quy mô TTCN của làng phát triển đến mức độ nào đó mới được gọi là làng nghề. Vì ở trong làng nên việc định luợng, xác định quy mô nghề vừa phải xem xét chính bản thân hoạt động TTCN, vừa phải đặt trong quy mô làng về số hộ, số lao động, thu nhập từ hoạt động kinh tế bởi vì đặc trung đầu tiên của làng Việt Nam là gắn với số hộ, số lao động và thu nhập từ nông nghiệp. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh quy mô các hoạt động TTCN, trong đó hai chỉ tiêu cơ bản là giá trị sản xuất và lao động làm nghề TTCN. Tuy vậy, do nghề gắn liền với làng vốn có điểm xuất phát là nông nghiệp nên phải so sánh tỷ lệ lao động (hay hộ) và thu nhập của TTCN với tổng số lao động và tổng thu nhập của làng.
Như vậy, tỷ lệ lao động làm nghề và tỷ lệ thu nhập do nghề đưa lại so với lao động và thu nhập của làng là bao nhiêu thì được gọi là làng nghề. Vấn đề đặt ra ở đây cũng tương tự như trong kinh tế học thường gặp như khái niệm trang trại và tiêu chí trang trại, khái niệm hộ nghèo và chuẩn phân loại hộ nghèo. Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các quan niệm nêu trên và từ nghiên cứu của bản thân, tác giả luận án cho rằng: làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng. Như vậy, làng nghề muốn được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn.
9 - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.2 Phát triển làng nghề 1.1 Phát triển làng nghề Trong kinh tế, phát triển được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, bao gồm cả sự tăng thêm về lượng và sự tiến bộ về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăng của tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển.
Theo đó, phát triển làng nghề là sự tăng lên cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức của làng nghề ở hai mức độ từ thấp lên cao thể hiện ở việc mở rộng về quy mô sản xuất, sự gia tăng về mức đóng góp cho ngân sách và thu nhập bình quân một đầu người, việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường tại làng nghề… (Szydlowski, 2008).2 Phát triển bền vững làng nghề Trong những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, tăng trưởng kinh tế của một số nước đạt tốc độ khá cao, tuy nhiên nó cũng có những ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng đó đến tương lai con người và vấn đề tăng trưởng bền vững đã được đặt ra. Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối rộng và có thể có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm phát triển bền vững được ngân hàng thế giới đề cập lần đầu tiên năm 1987 như sau:“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai”. Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu theo một cách toàn diện hơn: “Phát triển bền vững bao gồm phát triển các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh quốc gia được đảm bảo” (Nguyễn Thị Mai Hương, 2011).
10 Nếu như không tính đến khía cạnh an ninh quốc phòng thì khái niệm phát triển bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường bền vững, kinh tế bền vững và xã hội bền vững. Phát triển bền vững làng nghề là phát triển làng nghề đảm bảo tính ổn định, lâu dài và việc phát triển không làm ảnh hưởng đến lợi ích cho các thế hệ tương lai. Đó là sự phát triển dựa trên mức tăng trưởng cao và ổn định, hướng tới mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội nông thôn, khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.3 Nông thôn mới và chương trình xây dựng nông thôn mới 1.1 Nông thôn mới Nông thôn mới (NTM) là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã, có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại, sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa, có đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển, xã hội được quản lý tốt và dân chủ (Vũ Quốc Tuấn, 2011).2 Chương trình xây dựng nông thôn mới Chương trình xây dựng nông thôn mới là một trong những nội dung nhiệm vụ trọng tâm rất quan trọng để thực hiện Nghị quyết 26-NQ/T.Ư “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Như chúng ta đã biết, hiện nay, do kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi…) còn nhiều yếu kém, vừa thiếu lại vừa không đồng bộ, nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp.