Nghiên cứu phát triển làng nghề và chương trình xây dựng nông thôn mới tại Bắc Ninh

Luận án nghiên cứu phát triển làng nghề tại Bắc Ninh gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy kinh tế và văn hóa địa phương.

Chuyên ngành

Phát triển nông thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2014

239
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

0.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Tổng quan các công trình nghiên cứu về làng nghề có liên quan

0.4.1. Các nghiên cứu có liên quan trên thế giới

0.4.2. Các nghiên cứu có liên quan trong nước

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1. Một số khái niệm

1.2. Phát triển làng nghề

1.3. Nông thôn mới và chương trình xây dựng nông thôn mới

1.4. Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề với xây dựng nông thôn mới

1.5. Tác động của chương trình xây dựng nông thôn mới đến phát triển làng nghề

1.6. Vai trò phát triển làng nghề trong xây dựng nông thôn mới

1.7. Nội dung phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới

1.8. Phát triển kinh tế làng nghề

1.9. Phát triển văn hóa - xã hội làng nghề

1.10. Môi trường làng nghề

1.11. Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới

1.12. Chính sách phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới

1.13. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch

1.14. Cơ sở hạ tầng

1.15. Các yếu tố đầu vào

1.16. Thị trường tiêu thụ sản phẩm

1.17. Môi trường và bảo vệ môi trường

1.18. Thiết chế xã hội và truyền thống văn hóa

1.19. Các hình thức liên kết trong phát triển làng nghề

1.20. Cơ sở thực tiễn về phát triển làng nghề trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới

1.21. Kinh nghiệm phát triển làng nghề tại một số nước trong khu vực và một số tỉnh, thành phố tại Việt Nam

1.22. Bài học kinh nghiệm cho Bắc Ninh

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội

2.1.3. Một số thuận lợi và khó khăn trong phát triển làng nghề

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Tiếp cận nghiên cứu và khung phân tích phát triển kinh tế làng nghề

2.2.2. Chọn điểm nghiên cứu

2.2.3. Thu thập thông tin

2.2.4. Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

2.2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

3.1. Khái quát lịch sử phát triển các làng nghề và xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh

3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề nghiên cứu

3.2. Khái quát tình hình xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh

3.3. Thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới

3.3.1. Phát triển kinh tế làng nghề

3.3.2. Phát triển văn hóa - xã hội làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới

3.3.3. Môi trường làng nghề

3.3.4. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức

3.4. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến phát triển làng nghề Bắc Ninh gắn với xây dựng nông thôn mới

3.4.1. Chính sách phát triển làng nghề

3.4.2. Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch

3.4.3. Cơ sở hạ tầng

3.4.4. Các yếu tố đầu vào

3.4.5. Các yếu tố đầu ra

3.4.6. Môi trường và bảo vệ môi trường

3.4.7. Thiết chế xã hội và truyền thống văn hóa

3.4.8. Các hình thức liên kết trong phát triển làng nghề

3.5. Tổng hợp thực trạng phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2020

4.1. Căn cứ đề xuất giải pháp

4.1.1. Quan điểm chủ yếu về phát triển làng nghề ở Bắc Ninh giai đoạn hiện nay

4.1.2. Dự báo nhu cầu tiêu thụ và khả năng cạnh tranh một số sản phẩm chủ yếu

4.1.3. Định hướng phát triển làng nghề gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

4.2. Giải pháp phát triển làng nghề gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Bắc Ninh

4.2.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với làng nghề

4.2.2. Hoàn thiện kết cấu hạ tầng làng nghề phù hợp với quá trình xây dựng nông thôn mới

4.2.3. Hoàn thiện các thiết chế xã hội

4.2.4. Chuẩn hóa các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất

4.2.5. Ổn định, mở rộng đầu ra của sản xuất

4.2.6. Xây dựng, phát triển các hình thức liên kết kinh tế trong làng nghề

4.2.7. Đối với các nhóm ngành nghề và sản phẩm cụ thể

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

0.1. Kết luận

0.2. Kiến nghị

Danh mục các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Việc phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới ở Bắc Ninh là một vấn đề cấp thiết. Chính phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, nhấn mạnh tầm quan trọng của nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội. Các làng nghề không chỉ tạo ra sản phẩm hàng hóa mà còn góp phần vào việc nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, nhiều làng nghề đang đối mặt với khó khăn như nguồn vốn hạn chế, công nghệ lạc hậu và ô nhiễm môi trường. Những thách thức này cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho làng nghềnông thôn mới.

1.1. Tầm quan trọng của phát triển làng nghề

Phát triển làng nghề có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân. Các làng nghề ở Bắc Ninh đã tạo ra nhiều sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, từ đó góp phần vào tăng trưởng GDP của tỉnh. Việc khôi phục và phát triển làng nghề không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo ra việc làm cho người dân, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp ở nông thôn.

II. Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề và xây dựng nông thôn mới

Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề và xây dựng nông thôn mới là rất chặt chẽ. Phát triển làng nghề không chỉ giúp tăng cường kinh tế mà còn góp phần vào việc bảo tồn văn hóa và môi trường. Chương trình xây dựng nông thôn mới yêu cầu các tiêu chí về phát triển làng nghề phải được thực hiện đồng bộ. Việc phát triển làng nghề sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần vào sự phát triển bền vững của nông thôn mới.

2.1. Tác động của chương trình xây dựng nông thôn mới đến phát triển làng nghề

Chương trình xây dựng nông thôn mới đã tạo ra nhiều cơ hội cho làng nghề phát triển. Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ đã giúp cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua, như việc nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Sự hợp tác giữa các cơ sở sản xuất và chính quyền địa phương là rất cần thiết để đạt được mục tiêu này.

III. Giải pháp phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới

Để phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới, cần có các giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần hoàn thiện chính sách phát triển làng nghề, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất tiếp cận nguồn vốn và công nghệ mới. Thứ hai, cần tăng cường hợp tác xã và các hình thức liên kết trong sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế. Cuối cùng, việc bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hóa cũng cần được chú trọng trong quá trình phát triển làng nghề.

3.1. Hoàn thiện chính sách phát triển làng nghề

Chính sách phát triển làng nghề cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Cần có các chương trình hỗ trợ cụ thể cho các làng nghề truyền thống và mới, từ việc đào tạo nghề cho người dân đến việc hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Việc xây dựng các mô hình phát triển làng nghề thành công ở các địa phương khác cũng cần được nghiên cứu và áp dụng tại Bắc Ninh.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Một số khái niệm 1.1 Làng nghề Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế, xã hội của nước ta. Làng nghề đóng vai trò tích cực đến phát triển kinh tế và xã hội của nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn ở nước ta. Vì vậy, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đưa ra nhiều khái niệm về làng nghề. Các khái niệm làng nghề này nhìn chung có nhiều điểm tương đồng với nhau và được tóm tắt như sau: Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, có phó cả.

cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu đuợc bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công (Trần Quốc Vượng, 2002). Quan niệm này đúng với làng nghề truyền thống, song đối với làng nghề nói chung lại còn bất cập bởi đối với những làng nghề mới hoạt động, yêu cầu nổi trội nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp,. là điều khó thực hiện. Quan niệm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập.

Ví dụ như: “Làng nghề là những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” (Mai Thế Hởn và cs., 2003), hay trong Dự thảo Nghị định của Chính Phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ NN &PTNT đệ trình tháng 5-2005 thì: “Làng nghề là thôn, ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng”, v. Các định nghĩa này đã khắc phục nhược điểm của quan niệm thứ nhất, quan tâm đến phải có tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề và việc cố định những tiêu chí trong khái niệm sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi chế độ ưu đãi đối với làng nghề thay đổi thì phải chăng khái niệm cũng thay đổi. 8 Quan niệm thứ ba: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” (Dương Bá Phượng, 2001). Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là “làng” và “nghề”, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan niệm thứ hai, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ nhất.

Thuật ngữ làng nghề được tạo thành bởi hai chủ thể “làng” và “nghề”. Nghề được đề cập ở đây là nghề TTCN được tiến hành trong phạm vi làng và gắn với làng. Có thể hiểu một cách giản đơn làng nghề là làng có hoạt động TTCN. Tuy vậy, không phải quy mô của nghề ở bất cứ mức độ nào thì làng cũng được gọi là làng nghề.

Làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động TTCN đủ lớn đến mức độ nào đó và mang tính ổn định. Như vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện cả về định tính và định lượng. Định tính của làng nghề thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng thuần nông (hoặc có ngành nghề phụ quy mô nhỏ) hoặc với phố nghề ở thành thị. Định lượng của khái niệm làng nghề là chỉ rõ làng nghề đạt đến quy mô nào và tính ổn định ra sao.

Vì có điểm xuất phát là làng gắn với nông nghiệp nên khi quy mô TTCN của làng phát triển đến mức độ nào đó mới được gọi là làng nghề. Vì ở trong làng nên việc định luợng, xác định quy mô nghề vừa phải xem xét chính bản thân hoạt động TTCN, vừa phải đặt trong quy mô làng về số hộ, số lao động, thu nhập từ hoạt động kinh tế bởi vì đặc trung đầu tiên của làng Việt Nam là gắn với số hộ, số lao động và thu nhập từ nông nghiệp. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh quy mô các hoạt động TTCN, trong đó hai chỉ tiêu cơ bản là giá trị sản xuất và lao động làm nghề TTCN. Tuy vậy, do nghề gắn liền với làng vốn có điểm xuất phát là nông nghiệp nên phải so sánh tỷ lệ lao động (hay hộ) và thu nhập của TTCN với tổng số lao động và tổng thu nhập của làng.

Như vậy, tỷ lệ lao động làm nghề và tỷ lệ thu nhập do nghề đưa lại so với lao động và thu nhập của làng là bao nhiêu thì được gọi là làng nghề. Vấn đề đặt ra ở đây cũng tương tự như trong kinh tế học thường gặp như khái niệm trang trại và tiêu chí trang trại, khái niệm hộ nghèo và chuẩn phân loại hộ nghèo. Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các quan niệm nêu trên và từ nghiên cứu của bản thân, tác giả luận án cho rằng: làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng. Như vậy, làng nghề muốn được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn.

9 - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.2 Phát triển làng nghề 1.1 Phát triển làng nghề Trong kinh tế, phát triển được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, bao gồm cả sự tăng thêm về lượng và sự tiến bộ về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăng của tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển.

Theo đó, phát triển làng nghề là sự tăng lên cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức của làng nghề ở hai mức độ từ thấp lên cao thể hiện ở việc mở rộng về quy mô sản xuất, sự gia tăng về mức đóng góp cho ngân sách và thu nhập bình quân một đầu người, việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường tại làng nghề… (Szydlowski, 2008).2 Phát triển bền vững làng nghề Trong những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, tăng trưởng kinh tế của một số nước đạt tốc độ khá cao, tuy nhiên nó cũng có những ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng đó đến tương lai con người và vấn đề tăng trưởng bền vững đã được đặt ra. Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối rộng và có thể có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm phát triển bền vững được ngân hàng thế giới đề cập lần đầu tiên năm 1987 như sau:“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai”. Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu theo một cách toàn diện hơn: “Phát triển bền vững bao gồm phát triển các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh quốc gia được đảm bảo” (Nguyễn Thị Mai Hương, 2011).

10 Nếu như không tính đến khía cạnh an ninh quốc phòng thì khái niệm phát triển bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường bền vững, kinh tế bền vững và xã hội bền vững. Phát triển bền vững làng nghề là phát triển làng nghề đảm bảo tính ổn định, lâu dài và việc phát triển không làm ảnh hưởng đến lợi ích cho các thế hệ tương lai. Đó là sự phát triển dựa trên mức tăng trưởng cao và ổn định, hướng tới mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội nông thôn, khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.3 Nông thôn mới và chương trình xây dựng nông thôn mới 1.1 Nông thôn mới Nông thôn mới (NTM) là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã, có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại, sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa, có đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển, xã hội được quản lý tốt và dân chủ (Vũ Quốc Tuấn, 2011).2 Chương trình xây dựng nông thôn mới Chương trình xây dựng nông thôn mới là một trong những nội dung nhiệm vụ trọng tâm rất quan trọng để thực hiện Nghị quyết 26-NQ/T.Ư “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Như chúng ta đã biết, hiện nay, do kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi…) còn nhiều yếu kém, vừa thiếu lại vừa không đồng bộ, nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu phát triển làng nghề và chương trình xây dựng nông thôn mới tại Bắc Ninh" của tác giả Lê Xuân Tâm, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Tất Thắng và Nguyễn Phúc Thọ, tập trung vào việc phát triển các làng nghề gắn liền với chương trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình phát triển nông thôn mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội cho cộng đồng địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức phát triển bền vững trong nông nghiệp và làng nghề, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả, nơi cung cấp các phương pháp tổ chức và quản lý trong lĩnh vực khuyến nông, và Giải pháp tiếp tục xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại thị xã Đông Triều, Quảng Ninh, nghiên cứu về các giải pháp xây dựng nông thôn mới có thể áp dụng cho các địa phương khác. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến phát triển nông thôn và làng nghề, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.