Chương 1 là cơ sở lý luận, kim chỉ nam cho việc phân tích, đánh giá thực trạng tình hình thực hiện nâng cao hiệu quả Kinh tế - Xã hội của tiêu chí giao thông tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ở chương 2 và đề xuất thực trạng hiệu quả Kinh tế - Xã hội của tiêu chí giao thông và vấn đề nâng cao hiệu quả sẽ nói ở chương 3. 19 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TIÊU CHÍ GIAO THÔNG TẠI HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN 2.1 Giới thiệu về huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn 2.1 Điều kiện tự nhiên - Địa hình: Cao Lộc có địa hình cao nhất trong số các huyện thị của tỉnh Lạng Sơn, độ cao trung bình của toàn huyện khoảng 260m. Đỉnh cao nhất là đỉnh Mẫu Sơn cao 1.541 m nằm trên núi Mẫu Sơn. Địa hình đồi núi Cao Lộc có cấu trúc thành hai khối núi: núi Mẫu Sơn ở phần Đông của huyện và núi đá vôi Đồng Đăng ở Tây - Tây Bắc huyện.
- Khí hậu, thủy văn: Khí hậu của Cao Lộc chia bốn mùa rõ rệt , nhiệt độ trung bình năm là 21oC, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 27 oC - 32 oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 13 oC, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 9 oC, có nơi, có ngày nhiệt độ xuống dưới -1 oC. Thủy văn lượng mưa trung bình hàng năm tương đối thấp, đạt 1.320mm, 70% lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 9, nhiều xã mùa khô thiếu nước như Thuỵ Hùng, Phú Xá, Hồng Phong, Lộc Yên. Tốc độ gió trung bình năm là 2,0 m/s, mùa đông có gió mùa Đông Bắc, hiện tượng sương muối xảy ra ảnh hưởng mạnh đến sản xuất nông nghiệp. Độ ẩm trung bình cả năm là 82%.
- Tài nguyên đất: Theo địa giới hiện tại diện tích đất nông, lâm, ngư nghiệp của huyện chiếm 82,61% tổng diện tích tự nhiên (52.397 ha), trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 13,85 %, đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn bằng 85,99%. Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm 4,9% tổng diện tích tự nhiên (3109,02 ha). Diện tích đất chưa sử dụng còn lớn, khoảng 12,49% tổng diện tích tự nhiên của huyện, trong đó đất bằng chưa sử dụng là 2,41%, đất đồi núi chưa sử dụng có 6702 ha, bằng 84,6% diện tích đất chưa sử dụng. Núi đá không có rừng cây có 1.028,24 ha chiếm 12,98% tổng diện tích đất chưa sử dụng.
- Tài nguyên nước: Cao Lộc có mật độ sông suối tương đối dày, lớn nhất là con sông Kỳ Cùng chảy qua 4 xã. Lượng nước sông suối khá lớn vào mùa mưa, nhưng vào mùa khô lượng nước giảm mạnh không đủ cho nhu cầu dân sinh, mặt khác chênh lệch dòng chảy trong năm nhiều, hệ số biến đổi dòng chảy năm trên khu vực là 0,35 - 0,36, đây là điểm bất lợi trong việc lập các phương án sử dụng nguồn nước. Trên địa bàn hiện có 75,1 ha mặt nước được sử dụng cho mục đích nông nghiệp, 101 công trình thuỷ lợi lớn 20 nhỏ với năng lực tưới thực tế là 1.120 ha (theo thiết kế là 1. - Tài nguyên rừng: Huyện Cao Lộc có trữ lượng rừng không lớn, thực vật, động vật đa dạng, nhiều cây dược liệu quý và cây ăn quả đặc sản nổi tiếng, tuy nhiên nguồn tài nguyên rừng đã bị suy kiệt rất nhiều.
Năm 2000, tỷ lệ che phủ rừng của huyện Cao Lộc chỉ đạt 25%. Trong 10 năm qua, nhân dân huyện Cao Lộc đã nỗ lực trồng thêm rừng, vườn ươm làm tăng giá trị kinh tế của rừng và góp phần bảo vệ môi sinh và cải thiện môi trường. Năm 2010 tỷ lệ che phủ là 52%, trong đó rừng trồng và vườn ươm là 20.763,20 ha, chiếm trên 70% tổng diện tích rừng của huyện. - Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản của Cao Lộc không nhiều và trữ lượng nhỏ, có thể khai thác bằng các hình thức tận thu phục vụ phát triển công nghiệp địa phương, phân bố các loại khoáng sản gồm: quặng nhôm Tam Lung -Thụy Hùng, đa kim Tình Slung - Gia Cát, vàng sa khoáng sông Kỳ Cùng (Tân Liên và Gia Cát), đất sét, cao lanh ở Cao Lộc, Hợp Thành; cát xây dựng nằm rải rác dọc sông Kỳ Cùng (Gia Cát, Song Giáp) và mỏ đá vôi - Hồng Phong (xã Yên Trạch), Phú Xá, Bình Trung; suối khoáng Mẫu Sơn có thể cung cấp lượng nước khoáng khoảng 500 nghìn m3/năm.
- Tài nguyên du lịch: Cao Lộc là huyện miền núi có khí hậu ôn hòa đặc sắc của vùng núi cao là tiềm năng tự nhiên quý giá để phát triển du lịch. Điển hình là khu vực Mẫu Sơn cách TP Lạng Sơn 30 km về phía Đông, liên kết 03 xã Công Sơn, Mẫu Sơn (huyện Cao Lộc) và xã Mẫu Sơn (huyện Lộc Bình) có diện tích 10.470 ha, nằm ở độ cao 1.541m so với mặt biển, khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình năm 15,60C, rất thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng. Mẫu Sơn được bao bọc bởi trăm quả núi lớn nhỏ. Mùa hè mát mẻ, mùa đông đỉnh núi luôn bị sương mù bao phủ, những ngày giá rét thỉnh thoảng có tuyết rơi.
Nổi tiếng với các sản phẩm đặc trưng như đào Mẫu Sơn, chè Mẫu Sơn, hoa đào Mẫu Sơn. lại rất thuận lợi về giao thông, giầu tài nguyên thiên nhiên, cách Hà Nội không đến 180 km, từ Mẫu Sơn du khách có thể đi thăm Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma. Về giá trị tiềm năng du lịch Mẫu Sơn của Lạng Sơn có thể so sánh với Sapa của Lào Cai. Hiện Mẫu Sơn đang triển khai dự án xây dựng khu nghỉ dưỡng và phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch leo núi.2 Điều kiện kinh tế xã hội - Vị trí địa kinh tế: Theo giới hạn địa lý hiện tại huyện bao bọc Thành phố Lạng Sơn, là trung tâm kinh tế, chính trị, là vùng kinh tế động lực của tỉnh.
Huyện có 23 đơn vị hành chính gồm hai thị trấn là Đồng Đăng và thị trấn huyện lỵ Cao Lộc, 21 xã (xã Tân Thành, xã Xuân Long, xã Yên Trạch, xã Tân Liên, xã Gia Cát, xã Công Sơn, xã Mẫu Sơn, xã Xuất Lễ, xã Cao Lâu, xã Hải Yến, xã Lộc Yên, xã Thanh Lòa, xã Hòa Cư, xã Hợp Thành, xã Thạch Đạn, xã Bảo Lâm, xã Thụy Hùng, xã Song Giáp, xã Phú Xá, xã Bình Trung, xã Hồng Phong). Huyện Cao Lộc có trên 75 km đường biên giới với Trung Quốc, có 2 cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và cửa khẩu Ga Đồng Đăng, có các cặp chợ biên giới quan trọng, có các trục giao thông đường bộ và đường sắt quốc tế, quốc lộ 1A, 1B, 4B, 4A liên kết với tất cả các huyện , với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, Thành phố Lạng Sơn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Lạng Sơn nằm gần như hoàn toàn trong phạm vi địa giới của huyện Cao Lộc, đây còn là vùng kinh tế động lực của tỉnh, nên đã tạo lợi thế to lớn cho huyện Cao Lộc trong phát triển Kinh tế - Xã hội và khẳng định tầm quan trọng về Quốc phòng - An ninh không chỉ đối với Lạng Sơn, mà còn đối với toàn quốc. - Dân cư: Theo số liệu thống kê dân số trung bình của huyện Cao Lộc đến năm 2010 là 74.588 người, mật độ dân cư trung bình là 118 người/km2. Tốc độ gia tăng dân số của huyện trong giai đoạn phát triển vừa qua đã giảm dần, tỷ lệ tăng dân số trung bình thời kỳ 2006-2010 là 0,9%/năm, tỷ lệ nữ là 50,3%, nam là 49,7%.
Tỷ lệ đô thị hóa của huyện năm 2010 là 19,56%, so với mức độ đô thị hóa của tỉnh Lạng Sơn và của toàn vùng Trung du miền núi phía Bắc, tỷ lệ đô thị hóa của Cao Lộc đạt mức trung bình. Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá của Cao Lộc tăng nhanh do chủ trương phát triển Khu Kinh tế Cửa Khẩu K Đồng Đăng. Cao Lộc có 05 dân tộc chính: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa. Dân cư huyện Cao Lộc phân bố không đều giữa các địa phương trong huyện.
Mật độ dân cư cao nhất huyện là Thị trấn Cao Lộc, ở các xã vùng cao mật độ dân cư rất thấp, đời sống còn khó khăn. - Nguồn nhân lực: Đến năm 2010 số người trong độ tuổi lao động là 40.447 người, chiếm 54,23% dân số, trong đó có 40.293 lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế, chủ yếu làm các nghề nông nghiệp, lâm nghiệp. Số lao động cần giải quyết 22 việc làm là 1.253 người, chiếm tỷ lệ đến 3,1% tổng số lao động hiện có, riêng khu vực thành thị tỷ lệ cần giải quyết việc làm đang rất cao tới 12%. Trình độ lao động nhìn chung còn rất thấp kém, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 35,67%; lao động tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học là 1,39%, lao động có trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 3,63%; công nhân kỹ thuật chiếm tỷ lệ là 2,65%.
Cơ cấu lao động theo nghề nghiệp: Lực lượng lao động của huyện tập trung chủ yếu ở khu vực I, lao động làm các nghề nông, lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao, tới 77,4% tổng lao động, lao động làm việc trong các ngành CN - XD chiếm 5,77%, các ngành dịch vụ chỉ chiếm 16,83%. Năng suất lao động trung bình của ngành nông lâm thủy sản mặc dù có tăng qua các năm những vẫn ở mức rất thấp, khoảng 8,21 triệu đồng/lao động /năm, bằng 37,9% năng suất lao động trung bình của nền kinh tế. Trong khi đó, GDP bình quân một lao động ngành CN -XD tới trên 107,75 triệu đồng/năm, và chỉ tiêu tương ứng đối với khối ngành dịch vụ là gần 58,62 triệu đồng/năm. Nhìn chung lực lượng lao động của huyện tương đối dồi dào, ngày càng được tiếp cận dễ dàng hơn với các dịch vụ đào tạo, dạy nghề, đáp ứng đủ số lượng cho nhu cầu phát triển trước mắt của các ngành kinh tế.
Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực của huyện hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù số lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật tăng nhanh (bao gồm cả công nhân kĩ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học) song cũng mới chỉ bằng khoảng 4% tổng lao động. Nguồn nhân lực được đào tạo còn mất cân đối giữa các ngành và các bậc đào tạo, lao động có bằng cấp chuyên môn chỉ chiếm 7,67% tổng lao động được đào tạo.