Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm nông thôn Cho đến nay, đã có một số định nghĩa về nông thôn, nhưng chưa có định nghĩa nào được chấp nhận và sử dụng một cách rộng rãi. Để hiểu nông thôn là gì, có nhiều các tiếp cận khác nhau, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tiếp cận so sánh sự khác nhau giữa nông thôn và đô thị. - Trong từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 1994, nông thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông. Còn trong từ điển Bách khoa của Nhà xuất bản Bách khoa Mátxcơva năm 1986 định nghĩa thành thị là khu vực dân cư làm các nghề ngoài nông nghiệp.
Hai định nghĩa nêu trên phân biệt nông thôn với đô thị dựa theo dấu hiệu chủ yếu là đặc trưng nghề nghiệp của cư dân. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa nông thôn và đô thị không phải chỉ ở đặc điểm nghề nghiệp của cư dân, mà còn khác nhau cả về mặt tự nhiên, kinh tế và xã hội nữa. Về mặt tự nhiên, nông thôn là vùng không gian rộng lớn (còn gọi là không gian nông thôn), có quỹ đất đai rộng lớn, thường bao quanh các đô thị (các thành phố, thị trấn, khu công nghiệp). Những vùng nông thôn khác nhau có những khác nhau về quỹ đất, địa hình, khí hậu thuỷ văn, nguồn tài nguyên… Về kinh tế-xã hội, hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân nông thôn là làm nông nghiệp và thu nhập chính là thu từ nông nghiệp.
Cơ sở hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội ở nông thôn thường có diện mạo khác hơn và trình độ phát triển thấp hơn so với của đô thị. Trình độ phát triển về dân trí, về tư duy sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường của người dân nông thôn cũng thường thấp kém hơn. Ngoài ra, những di sản văn hoá truyền thống, những phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn là rất phong phú thể hiện rõ lối sống và cách sống riêng có của người dân nông thôn so với đô thị. Từ đó, có thể hiểu nông thôn là khu vực không gian lãnh thổ mà ở đó cộng đồng cư dân có cách sống và lối sống riêng, lấy sản xuất nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chủ yếu và sống chủ yếu dựa vào nghề nông (nông, lâm, ngư nghiệp); 7 Luan van có mật độ dân cư thấp và quần cư theo hình thức làng xã; có cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội kém phát triển, trình độ về dân trí, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như tư duy sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường là thấp kém hơn so với đô thị; có những mối quan hệ bền chặt giữa các cư dân dựa trên bản sắc văn hoá , phong tục tập quán cổ truyền về tín ngưỡng, tôn giáo…[4] - Từ khái niệm tổng quát nêu trên về nông thôn cho thấy, người ta phân biệt nông thôn với đô thị dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
Đến lượt nó, việc phân biệt rõ sự khác nhau giữa nông thôn và đô thị nhằm chỉ rõ đặc điểm , tính chất của mỗi loại địa bàn kinh tế- xã hội này sẽ giúp cho việc hoạch định chiến lược phát triển nông thôn và đô thị của mỗi nước, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Người ta chú ý ba tiêu chí cơ bản để phân biệt đô thị với nông thôn, đó là: quy mô, mật độ dân số và cơ cấu lao động theo ngành. Theo Nghị định số 42/2009/NĐ- CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị thì đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Theo Nghị định này, các tiêu chí cơ bản để phân loại đô thị gồm: - Chức năng đô thị: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
- Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên. - Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn. - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động. Các đô thị được phân thành 6 loại, gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V.
Thị trấn là đô thị loại V thuộc Huyện quản lý, có các tiêu chuẩn chủ yếu là: Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của một huyện hoặc một cụm xã. Việc phân biệt nông thôn và đô thị theo các tiêu chí như trên là có tính chất tương đối. Bởi vì giữa nông thôn và đô thị trong nhiều trường hợp không hoàn toàn 8 Luan van tách biệt nhau mà có sự xen ghép, nối tiếp nhau, chồng gối nhau về mặt không gian lãnh thổ, đất đai, về địa bàn dân cư và về các hoạt động kinh tế xã hội của nông thôn và đô thị. Từ đó có thể thấy khái quát các dạng nông thôn và đô thị như sau: + Nông thôn cổ truyền: Bao gồm các làng xã, bản, buôn, sóc… chủ yếu mang tính chất thuần nông, dân cư làm nghề nông là chủ yếu, các hoạt động công nghiệp và dịch vụ không đáng kể; dân cư bố trí tương đối rải rác, phân tán.
+ Nông thôn - đô thị: Trong vùng nông thôn có những đô thị nhỏ, thị trấn, các phố làng, các tụ điểm dân cư tương đối tập trung. Trong nông thôn, ngoài các hoạt động nông nghiệp còn có các hoạt động công nghiệp và dịch vụ dưới dạng các phố làng, các làng nghề, các cụm công nghiệp nhỏ và vừa. +Đô thị: Đó là các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp tập trung. Hoạt động kinh tế ở các đô thị chủ yếu là công nghiệp và các hoạt động dịch vụ.
Gắn liền với quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, tất yếu sẽ diễn ra quá trình đô thị hoá nông thôn. Do vậy, việc nắm bắt và tạo ra các điều kiện thuận lợi thúc đẩy đô thị hoá là đòi hỏi khách quan của công cuộc công nghiệp hoá đất nước hiện nay. Như vậy, từ những phân tích trên có thể hiểu, Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban Nhân dân xã. Đặc điểm của các vùng NT nước ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với tuyệt đại đa số dân cư sinh sống bằng một loại hình lao động, bởi vậy diện mạo các vùng NT rất ít có sự thay đổi nhất là về phương diện kinh tế - xã hội.
“Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, nhưng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các Quốc gia. Khái niệm nông thôn mới Nghiên cứu về nông thôn mới có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng đa số đều thống nhất khi khẳng định nông thôn mới phải có kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ, tái tạo. Tiêu chí chung để xác định NTM đượcquy định cho vùng miền trong cả nước được thực hiện theo Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 4 năm 2009 và Quyết định số 1980/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 10 năm 2016. 9 Luan van Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về NTM gồm 5 nhóm tiêu chí: Nhóm quy hoạch và thực hiện quy hoạch; Nhóm hạ tầng kinh tế - xã hội: giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện và nhà ở dân cư; Nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất: thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất; Nhóm văn hóa - xã hội - môi trường: giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường; Nhóm hệ thống chính trị: hệ thống tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội.
Ngày 04 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Tại Quyết định này, mục tiêu chung của Chương trình được xác định là: “ Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ngày 17 tháng 10 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1980/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016 -2020 gồm 19 tiêu chí: Tiêu chí về quy hoạch; tiêu chí về giao thông; tiêu chí về thủy lợi; tiêu chí về điện; tiêu chí về trường học; tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa; tiêu chí về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; tiêu chí về thông tin và truyền thông; tiêu chí về nhà ở dân cư; tiêu chí về thu nhập; tiêu chí về hộ nghèo; tiêu chí về lao động có việc làm; tiêu chí về tổ chức sản xuất; tiêu chí về giáo dục và đào tạo; tiêu chí về y tế; tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trường và an toàn thực phẩm; tiêu chí về hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; tiêu chí về quốc phòng và an ninh.