phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương (5 tiết). Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyén An Thi về xây dựng NTM (2008 - 2014) Chương II. Nhận xét và kinh nghiệm 12 Chương] CHU CHUONG VA SỰ CHỈ DAO CUA DANG BO HUYEN AN THI VE XAY DUNG NONG THON MOI (2008 — 2014) 1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Dang bộ huyện An Thi về xây dựng nông thôn mới 1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội Vị trí địa lý: Ân Thi là một huyện nằm ở hạ lưu sông Hồng thuộc châu thổ đồng bằng Bắc Bộ và nằm ở phía đông tỉnh Hưng Yên. Phía Bắc giáp huyện Yên Mỹ và Mỹ Hào, phía Nam giáp huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp huyện Khoái Châu, Kim Động. Huyện Ân Thi cách trung tâm tỉnh Hưng Yên 25 km về phía Tây Nam, cách thủ đô Hà Nội 50km về phía Bắc. Đặc điểm địa hình: An Thi nam ở vùng đất thấp của tỉnh Hưng Yên, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao thấp của đất xen kẽ nhau, không đồng đều, gây khó khăn cho công tác thuỷ lợi và tưới tiêu.
Khí hậu: Ân Thi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có bốn mùa rõ rệt, mùa đông khí hậu khô hanh, cuối mùa âm ướt, mùa hạ nóng âm nhiều mưa. Lượng mưa trung bình từ 1.500mm, mùa mưa kéo dai từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô từ thang 11 đến tháng 4 năm sau, lạnh và thường có mua phun. An Thi có diện tích đất tự nhiên 128,22km”.
Trong đó: đất nông nghiệp 9.358,31 ha, đất chuyên dùng 2.021,66 ha, đất ở 914,56 ha, đất chưa sử dụng 527,36 ha. An Thi có hệ thống sông ngòi đều khắp không chi dé tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn tạo thành hệ thống giao thông thuỷ thuận tiện cho việc phát triển kinh tế. Ngoài ra huyện còn có nguồn nước ngầm hết sức phong phú, đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp và đô thị. Ân thi cơ bản là huyện thuần nông, dân cư chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp.
Tuy nhiên, quy mô sản xuất nhỏ bé, ruộng đất manh mún, nông nghiệp phát triển chậm, sản xuất nói chung còn mang tính tự phát, sản lượng 13 nông sản ít, đời sống nhân dân nhìn chung còn nhiều khó khăn. Tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và thương mại phát triển chậm. Giao thông: Có 3 quốc lộ đi qua: quốc lộ 38, đường cao tốc Hà Nội — Hải Phòng (hoàn thành năm 2012) và quốc lộ 39 mới (dự án). Đường quốc lộ 38 chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, từ thị tran Kẻ Sat huyện Bình Giang, cắt ngang huyện, qua thị tran An Thi, sang nối với đường quốc lộ 39 ở Kim Động.
Hiện nay, huyện quản lý 56,6 km đường với các tuyến đường như: đường 38B, đường 200B, 200C, 200D, đường đê 199. Hệ thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải được xây dựng hoà cùng hệ thống sông ngòi của huyện, tạo thành mạng lưới thuỷ nông, giao thông thuận tiện cho việc phát triển kinh tế. Nguồn nhân lực: Cuối năm 2003, dân số huyện là 130. Số lao động trong độ tuổi là 69.215 người chiếm 53% dân số, trong nông nghiệp chiếm 61,2%.
Nhìn chung lao động dư thừa, lao động thiếu việc làm còn nhiều, giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc của huyện trong những năm tiếp theo. Thực trạng nông thôn huyện An Thi trước khi xây dựng nông thôn mới Trước năm 2008, cùng với sự phát triển chung của tỉnh, nông nghiệp, nông dân, nông thôn huyện Ân Thi đã đạt được những thành tựu khá toàn diện: Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá, do day mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyên dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được nâng cao; nông thôn đã có bước khởi sắc, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được tập trung xây dựng, củng cố, nâng cấp; đời sống vật chất, tỉnh thần của người dân nông thôn ngày càng được cải thiện; công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm thu được kết quả quan trọng; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy, an ninh chính trị, trật tự an toàn nông thôn được g1ữ vững. 14 Toàn huyện An Thi có 20 xã và 01 thị tran; 138 thôn xóm, khu dân cư; diện tích tự nhiên của huyện 128,22 km”; dân số trên 131.000 người, mật độ dân số bình quân 1028 người/km”; hơn 93% dân số sống ở nông thôn và hơn 75% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Những năm qua, cùng với sự phát triển chung của tỉnh, nông nghiệp, nông dân, nông thôn huyện Ân Thi đã đạt được những thành tựu khá toàn diện.
Về hạ tang kinh tế — xã hội Về giao thông nông thôn: các tuyến đường giao thông cấp xã quản lý là 100,2 km (đã cứng hóa được 91,02%); tuyến đường thôn là 355,8 km (đã cứng hóa được 73,5%). Toàn huyện có 407,4 km đường giao thông nội đồng, tỷ lệ cứng hóa được 10,2%, còn lại chủ yếu là đường đất, mặt đường hẹp. Hệ thống thủy lợi: Toản huyện hiện có 114 trạm bơm điện với tổng công suất tưới, tiêu 420.500m”/h; khoảng 400 km kênh mương (đã kiên cố hóa được 20,2km). Từ đó đã chủ động tưới, tiêu cho trên 8.000 ha diện tích.
Hệ thống điện: 100% xã trên địa bàn đã có điện sinh hoạt; số hộ nông dân thường xuyên sử dụng điện sinh hoạt chiếm hơn 99%. Hệ thống lưới điện nông thôn đã và đang từng bước cải tạo nâng cấp, đảm bảo nhu cầu sử dụng điện của nhân dân và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của ngành điện. Trường học: toàn huyện hiện có 18 trường gồm: 04 trường mầm non, 8 trường tiểu học và 6 trường trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia. Cơ sở vật chất văn hóa: huyện có một nhà văn hóa, 78% thôn, làng có nhà văn hóa.
20 xã đã có trung tâm học tập cộng đồng, một số nơi nhà văn hóa nông thôn được xây dựng trên vốn xã hội hóa và một phần vốn hỗ trợ của nhà nước. Chợ nông thôn: trong 20 xã trên địa bàn huyện, số xã có chợ chiếm hơn 45%, chu yêu là chợ loại III. Chưa có chợ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng. Thông tin và truyền thông: có 20/20 xã có điểm bưu điện văn hóa, 20/20 xã có internet tới nông thôn.
Số máy điện thoại bình quân là 87 máy/100 dân; 100% xã có hệ thống đài truyền thanh. 15 Nhà ở dân cư: 100% số xã đã cơ bản xóa được nhà tạm, nhà đột nát nhưng tỷ lệ nhà đạt chuẩn của Bộ xây dựng đạt thấp. Kinh tế và tổ chức sản xuất Thu nhập và đời sống nhân dân: Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể; thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 19 triệu/người/năm. Tiêu chí số 10 về thu nhập không xã nào đạt chuẩn.
Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2010 chi còn 10,3 % (theo chuẩn nghèo 2006-2010); đánh giá theo tiêu chí NTM về hộ nghèo không có xã nao trên địa bàn huyện đạt chuẩn. Cơ cấu lao động: Trong những năm qua, với sự phát triển của công nghiệp hóa — hiện đại hóa, một phan lớn lao động trẻ ở nông thôn đã chuyên sang làm công nhân tại các nhà máy, xí nghiệp; hiện tại lao động trong nông nghiệp vẫn chiến hơn 80 %. Kinh tế nông nghiệp vẫn chủ yếu là kinh tế hộ; mô hình tổ, nhóm, hợp tác xã có xu hướng phát triển theo hướng đa dạng ngành nghé, sản phẩm. Một số địa phương bước đầu đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, các hộ nông dân sản xuất các loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ ôn định.
Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề: toàn huyện có 02 làng nghề với 801 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Sản phẩm sản xuất với các loại sản phẩm như: chế tác vàng, bạc, khâu nón. Tiểu thủ công ngiệp và ngành nghề nông thôn tạo việc làm cho 3243 lao động (2010); góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, từng bước cai thiện đời sống nông dân. Giá trị ngành nghề nông thôn chiếm 13% giá trị công nghiệp địa phương.
Dich vụ — thương mại: các doanh nghiệp bước đầu thiết lập mối quan hệ hợp tác trong cung cấp dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho nông nghiệp. Các đơn vị, công ty cung ứng giống, vật tư, phân bón, điện lực phối hợp chặt chẽ với hợp tác xã trong việc tưới, tiêu, cung cấp hàng hóa, dịch vụ. 16 Một số doanh nghiệp thu mua sản phẩm theo hợp đồng, đã góp phần thúc đây sản xuất, thay đôi phương thức, tư duy sản xuất kinh doanh của hộ nông dân. Kinh tế trang trại phát triển tương đối nhanh cả về tốc độ, quy mô và chất lượng, toan huyện có 160 trang trại, trong đó có 98 trang trại đạt tiêu chuẩn liên bộ.
Day là nhân tố rat quan trong trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Toàn huyện hiện có 21 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp có 61,2% sé hợp tac xã có lãi, 33,3% hop tác xã hoa vốn, 5,5% lỗ vốn. Ngoài ra, còn có hàng chục tổ, đội, nhóm hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, với hình thức hoạt động rất đa dạng và linh hoạt. Cơ khí hóa, điện khí hóa nông nghiệp phát triển khá.
Hiện nay cơ giới hóa được 100% khâu làm đất, 90% khâu vận chuyền ở nông thôn, 5% phòng trừ sâu bệnh. Về phát triển văn hóa — xã hội — môi trường Hoạt động văn hóa thông tin, thé dục thé thao ở các xã được coi trọng, có nhiều chuyên biến tích cực; phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được triển khai đồng bộ ở các cấp, các ngành. Cộng đồng dân cư bước đầu biết chăm lo, tự chủ, tự quản; có 86% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 74% thôn, làng đạt chuẩn văn hóa. Toàn huyện có 26 di tích được xếp hạng, trong đó có 15 di tích, cum di tích được xếp hang di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, 11 đi tích được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Cơ sở y tẾ xã đang tiếp tục được củng cô và xây dựng, có 71,4% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; 66,6% số xã có bác sĩ.