phần mở đầu, vai trò của nông nghiệp là hết sức quan trọng trong công cuộc phát triển nền kinh tế - xã hội khi nƣớc ta vẫn là một nƣớc còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng này, cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW tại Hội nghị TW lần thứ bảy BCH Trung ƣơng Đảng khóa X về chính sách Tam nông, Ban Bí thƣ đã ban hành Quyết định 205-QĐ/TW thành lập BCĐ thí điểm chƣơng trình XD NTM và lựa chọn 11 xã4, đại diện cho các vùng miền để XD NTM. Trên thực tế, đây không phải là mô hình thí điểm đầu tiên về NTM. Trong những năm trƣớc, có 2 lần chƣơng trình thí điểm này đƣợc triển khai dƣới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Lần thứ nhất từ 2001-2004 triển khai tại 18 xã, lần thứ hai từ 2007-2009 tại 17 xã. Mặc dù đã đƣợc triển khai từ rất sớm và có nhiều bài học kinh nghiệm rút ra từ chƣơng trình nhƣng hình mẫu của một thôn/bản kiểu mới vẫn chƣa đƣợc rõ nét, các chƣơng trình, dự án còn manh mún, chƣa đồng bộ, đồng thời thiếu sự gắn kết nên việc đầu tƣ còn trùng lặp, chồng chéo. Chính vì thế, lần thí điểm trên diện rộng lần này, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng đã 3 Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2007a 4 Các xã thí điểm: Thanh Chăn ( Điện Biên - Điện Biên), Tân Thịnh (Lạng Giang - Bắc Giang), Hải Đƣờng (Hải Hậu - Nam Định), Gia Phổ (Hƣơng Khê - Hà Tĩnh), Tam Phƣớc (Phú Ninh - Quảng Nam), Tân Hội (Đức Trọng - âm Đồng), Tân Lập (Đồng Phú - Bình Phƣớc), Định Hòa (Gò Quao - Kiên Giang), Mỹ Long Nam (Cầu Ngang - Trà Vinh), Tân Thông Hội (Củ Chi – TPHCM) và Thụy Hƣơng (Chƣơng Mỹ - Hà Nội). 123doc 6 quyết định thành lập BCĐ thí điểm XD NTM với mục đích xác định rõ ràng hơn về nội dung, phƣơng pháp, cơ chế chính sách để tổ chức thực hiện.
Để làm căn cứ đánh giá kết quả chƣơng trình thực hiện việc XD NTM, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Theo sau đó là Thông tƣ số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Hƣớng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM. Cụ thể hơn, Bộ tiêu chí này là căn cứ để xây dựng nội dung chƣơng trình MTQGXDNTM, chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cũng để kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM. Chƣơng trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới Cùng với quá trình thí điểm tại 11 xã đại diện trên cả nƣớc, đến năm 2010, chƣơng trình XD NTM chính thức trở thành chƣơng trình Mục tiêu quốc gia vào ngày 04/6/2010 khi Thủ tƣớng Chính phủ ban hành quyết định số 800/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia về XD NTM giai đoạn 2010-2020”.
Chƣơng trình MTQGXDNTM mới đã khắc phục đƣợc một số hạn chế so với các chính sách về nông thôn đã thực hiện trƣớc đây, đó là chƣơng trình đã bao phủ trên diện rộng, là một chƣơng trình tổng thể trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội và phát triển kinh tế chứ không thiên về xây dựng cơ bản giao thông nông thôn, văn hóa, y tế và xã hội; cộng đồng dân cƣ là những ngƣời chủ thể trong XD NTM, Nhà nƣớc chỉ định hƣớng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn và chính sách hỗ trợ; đây là chƣơng trình khung về phát triển nông thôn đã bao gồm các nội dung cần thực hiện cho các tiêu chí và để thực hiện đƣợc sẽ có nhiều chƣơng trình, dự án thành phần do các Bộ, ngành phối hợp chỉ đạo, nội dung sẽ không trùng lặp. Theo đó, chƣơng trình gồm 11 nội dung với 19 tiêu chí, đƣợc phân chia thành 5 nhóm: Nhóm I: Quy hoạch (01 tiêu chí) Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (08 tiêu chí) Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (04 tiêu chí) Nhóm IV: Văn hóa – Xã hội – Môi trƣờng (04 tiêu chí) Nhóm V: Hệ thống chính trị (02 tiêu chí) 123doc 7 Chƣơng trình NTM đƣợc điều hành, quản lý bởi BCĐ các cấp đƣợc thành lập từ Trung ƣơng đến tận cơ sở. Văn phòng điều phối là cơ quan thƣờng trực giúp việc cho BCĐ cấp Trung ƣơng và cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ƣơng. BCĐ Trung ƣơng có vai trò chỉ đạo lớn nhất trong chƣơng trình NTM, BCĐ cấp thấp hơn cùng với các Bộ ngành ở Trung ƣơng phải chịu sự điều hành của BCĐ Trung ƣơng.
Vai trò của BCĐ cấp tỉnh đối với sở, ngành; cấp huyện đối với các phòng ban cũng tƣơng tự nhƣ vậy. Đối với cấp xã là đơn vị trực tiếp triển khai chƣơng trình nên vừa có BCĐ, vừa có Ban quản lý. Bên cạnh đó, tùy thuộc vào từng nội dung, từng tiêu chí cụ thể mà có các Bộ ngành cùng tham gia chủ trì và hƣớng dẫn thực hiện nội dung. Giữa các thành phần trong hệ thống có quan hệ chỉ đạo, quan hệ hỗ trợ và quan hệ giám sát, đƣợc thể hiện ở sơ đồ: nh 2.
Sơ đồ bộ máy BCĐ chương tr nh NTM Nguồn: tác giả vẽ dựa trên quyết định 1013/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BK ĐT-BTC Về nguồn vốn đầu tƣ để phục vụ cho chƣơng trình, theo Quyết định 800 đƣợc huy động từ bốn nguồn cơ bản: thứ nhất, vốn ngân sách (Trung ƣơng và địa phƣơng) chiếm khoảng 40%; thứ hai, vốn tín dụng (tín dụng đầu tƣ phát triển và tín dụng thƣơng mại) khoảng 30%; thứ ba, vốn huy động từ doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác khoảng 20%; thứ tƣ, huy động đóng góp của cộng đồng dân cƣ khoảng 10%. 123doc 8 Theo báo cáo tổng kết chƣơng trình MTQGXDNTM tháng 5/2014, thực tế triển khai chƣơng trình trong giai đoạn 2011-2013 đã huy động khoảng trên 485 nghìn tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách chiếm 33,4%; vốn tín dụng 47,7%; vốn huy động từ các doanh nghiệp 6% và huy động từ cộng đồng dân cƣ 12,9%5. Cơ cấu vốn thực hiện chương tr nh NTM Cơ cấu vốn theo Cơ cấu vốn thực tế QĐ 800 2011-2013 Vốn Vốn DN Vốn dân dân cƣ 6% cƣ 10% 13% Ngân sách Vốn DN Ngân sách Nhà nƣớc 20% Nhà nƣớc 33% 40% Vốn tín Vốn tín dụng dụng 48% 30% Nguồn: tác giả vẽ dựa trên quyết định 800/QĐ-TTg và báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia XD NTM tháng 5/2014 Nhƣ vậy, có thể thấy cơ cấu vốn thu đƣợc thực tế là không đồng cân đối so với quy định.
So với QĐ 800 thì nguồn lực huy động từ NSNN và doanh nghiệp không đạt so với mục tiêu, trong khi đó vốn tín dụng và vốn huy động từ nguồn lực cộng đồng đạt cao hơn. 5 Tạp chí Tài chính, Tăng cƣờng nguồn lực XD NTM, 23/01/2015, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao- doi/trao-doi---binh-luan/tang-cuong-huy-dong-nguon-luc-xay-dung-nong-thon-moi-57927.html, truy cập 09/9/2015. 123doc 9 CHƢƠNG 3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3.
Lý thuyết về sự tham gia của ngƣời dân Trƣớc hết, cần định nghĩa sự tham gia của ngƣời dân. Theo World Bank, tham gia là một quá trình trong đó các nhóm liên quan tác động và chia sẻ giám sát đối với hoạt động phát triển, các quyết định và các nguồn gây ảnh hƣởng đến họ. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng tham gia là sự tƣơng tác của các bên liên quan nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung. Đối với sự tham gia của ngƣời dân, tùy thuộc vào các mức độ, hoạt động, cách tiếp cận… mà có nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo Florin (1990), sự tham gia của ngƣời dân là “một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chƣơng trình và môi trƣờng ảnh hƣởng đến họ”. Theo một định nghĩa khác của Pierre André (2012) thì sự tham gia của ngƣời dân là một quá trình mà trong đó những ngƣời dân thƣờng tham gia – trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc và hành động một mình hoặc trong một nhóm - với mục tiêu ảnh hƣởng đến quyết định sẽ tác động đến cộng đồng của họ. Sự tham gia này có thể diễn ra bên trong hoặc bên ngoài khuôn khổ thể chế và nó có thể đƣợc tổ chức bởi thành viên của các tổ chức xã hội hay ngƣời ra quyết định. Trong thống kê của mình, giáo sƣ Guijt và Cornwall từ Viện nghiên cứu và phát triển (IDS) của trƣờng Đại học Sussex, vƣơng quốc Anh, từ những năm 70 của thế kỷ trƣớc đã có tới 29 phƣơng pháp và kỹ thuật tham gia đƣợc gọi chung là “nghiên cứu tham gia” (PR – Participatory Research).
Trong đó có cách tiếp cận “nghiên cứu hành động tham gia” (PAR – Participatory Action Research) đã đƣợc Deshler, D and Ewert, M (1995) định nghĩa mang tính chất chung và đƣợc thừa nhận6: “PAR là một quá trình nghiên cứu có hệ thống, trong đó những ngƣời đang phải trải qua một hoàn cảnh khó khăn ở cộng đồng hay ở nơi làm việc, trên tinh thần hợp tác với những ngƣời nghiên cứu nhƣ những chủ thể nghiên cứu, tham gia vào việc thu thập và phân tích thông tin, việc ra quyết định, và các hoạt động quản l cũng nhƣ việc cải thiện hoặc giải quyết vấn đề của chính họ”. 6 Một số khía cạnh lý thuyết của cách tiếp cận “nghiên cứu hành động tham gia” (PRA) trong phát triển cộng đồng, Nguyễn Duy Thắng (2002), http://voer.vn/m/mot-so-khia-canh-ly-thuyet-cua-cach-tiep-can- nghien-cuu-hanh-dong-tham-gia-par-trong-phat-trien-cong-dong/93281781, truy cập 27/7/2015. 123doc 10 Có nhiều lý thuyết đo lƣờng sự tham gia của ngƣời dân. Về cơ bản, tác giả nhìn nhận hai cách đánh giá.
Thứ nhất, nhìn từ phía ngƣời tham gia, tức là ngƣời dân, theo nghiên cứu của Jules N.