CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế 1.1 Các nghiên cứu về kinh tế xanh và phát triển kinh tế xanh Pearce D, Markandya A, Barbier EB đã đưa ra khái niệm ‘KTX’ lần đầu tiên trong công trình nghiên cứu của mình về ý nghĩa của phát triển bền vững và nhận định sự ảnh hưởng đến từ môi trường. Nghiên cứu nêu ra các phương pháp mà các Chính phủ trên thế giới có thể thực hiện thông qua công cụ thuế môi trường vừa làm giảm thiểu tác hại tới môi trường, vừa đồng thời xây dựng nguồn tài chính công xử lý làm sạch môi trường. Nghiên cứu cũng đưa ra các chương trình khung vì sự tiến bộ bền vững của loài người trong phát triển KTX (Pearce D, Markandya A, Barbier EB, 1989). Theo UNEP, KTX là một mô hình phát triển kinh tế được thiết kế nhằm đảm bảo cán cân đồng đều giữa sự thúc đẩy kinh tế và bảo vệ môi trường.
Đích đến cuối cùng của KTX là tạo ra sự tăng trưởng bền vững bằng cách sử dụng một cách không ngoan và năng suất các nguồn sẵn có của tự nhiên, cũng như giảm tối đa các ảnh hưởng xấu đến môi trường và các giá trị của thiên nhiên. KTX không chỉ nhấn mạnh vào việc tạo ra nguồn lợi vật chất, mà còn quan tâm đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống, bảo vệ đa dạng sinh học, giảm thiểu các yếu tố có hại lên môi trường, và tăng cường sự cải tiến xã hội. Nguyên tắc chính của KTX: - Tối ưu hóa tài nguyên: KTX tập trung vào sự sáng tạo trong việc vận dụng các nguồn tự nhiên sẵn có hình thành nên giá trị cao hơn và đồng thời giảm lượng tài nguyên tiêu thụ. - Phát triển sạch và thấp carbon: KTX thúc đẩy việc dùng năng lượng tái tạo và hạn chế thải khí nhà kính ra môi trường.
11 - Khuyến khích đổi mới công nghệ: Các công nghệ sạch và đem lại nhiều lợi ích hơn được ủng hộ và hỗ trợ để thúc đẩy sự tiến bộ trong công tác bảo vệ môi trường. - Tạo việc làm bền vững: KTX tạo ra cơ hội việc làm trong các ngành công nghiệp mới liên quan đến năng lượng tái tạo, quản lý tài nguyên và các lĩnh vực khác. - Khuyến khích thúc đẩy sáng tạo và khởi nghiệp: Sự phát triển KTX khuyến khích sự đổi mới tư duy và thành lập các chủ thể doanh nghiệp mới trong lĩnh vực mang lại lợi ích cho xã hội và bảo vệ môi trường. - Thúc đẩy hợp tác toàn cầu: KTX yêu cầu sự chung tay của các quốc gia trong việc tìm ra giải pháp phát triển kinh tế ổn định, lâu dài và bảo vệ môi trường (UNEP, 2011).
Nội dung của KTX: KTX là định hướng cho công tác đẩy mạnh nền kinh tế tập trung vào việc tối ưu hóa sự tương tác giữa kinh tế và môi trường, nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế lâu dài và xóa bỏ tối đa các tác nhân tổn hại đến môi trường. Mô hình này khuyến khích sự sáng tạo trong sử dụng tài nguyên, thúc đẩy năng lượng tái tạo và tối thiểu hóa khí nhà kính. Sau đây là một vài điểm mấu chốt của nội dung KTX: - Quản lý tài nguyên thông minh: KTX tập trung vào tận dụng các nguồn sẵn có một cách tốt hơn bằng cách sử dụng các phương tiện tiên tiến, quản lý tài nguyên tự nhiên theo định hướng lâu dài và tạo điều kiện tốt nhất cho việc cung ứng. - Năng lượng tái tạo và sạch: KTX khuyến khích sử dụng điện mặt trời, điện năng từ gió và thủy điện để giảm tối đa việc lệ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch và giảm lượng khí nhà kính.
- Khuyến khích công nghệ sạch: KTX thúc đẩy sự phát triển cũng như sử dụng các phương pháp, kỹ thuật máy móc thân thiện môi trường như mô 12 hình vận chuyển công cộng hiệu quả, công nghệ xử lý nước thải và quản lý rác thải thông minh. - Bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học: KTX coi trọng việc giữ gìn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng các loài sinh vật bằng các biện pháp xử lý ô nhiễm, bảo vệ các khu vực tự nhiên và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên sinh thái. - Việc làm và phát triển xã hội: KTX tạo cơ hội việc làm trong các lĩnh vực sản xuất mới có thể nói đến như năng lượng tái sinh, quản lý môi trường hay công nghệ xanh, thông qua đó tạo tiền đề để xây dựng xã hội bền vững (UNEP, 2011). Các tác giả Robert Ayres và cộng sự trong cuốn sách“Hướng tới nền KTX-Lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” đã định nghĩa “KTX” không làm mất đi định nghĩa về sự bền vững, và là phương thức tạo cơ sở cho sự phát triển ổn định, dài lâu.
Cuốn sách cũng cho thấy tính bền vững là một mục tiêu trọng yếu và cần duy trì lâu dài mà cần xây dựng thành công nền KTX mới có thể đạt được. Để hình thành và chuyển hướng sang “nền KTX” hiệu quả thì khung chính sách hỗ trợ là yếu tố tiên quyết. Khung chính sách này góp phần đưa ra các biện pháp tài chính và cải cách chính sách quốc gia, hợp tác quốc tế thông qua thương mại, viện trợ, phát triển thị trường, hỗ trợ xây dựng năng lực và những bước cần thiết để vận động tài chính cho quá trình chuyển đổi. Các nghiên cứu ở Việt Nam đã nêu ba đặc trưng cơ bản của KTX là kinh tế sạch- mang hàm lượng trí tuệ cao, nền kinh tế hài hòa-xanh hóa cho phát triển và bản thân quá trình phát triển xanh mang lại nhiều giá trị môi trường.
Đặc biệt, Thái Quang Trung7 đã đưa ra 10 nguyên lý của KTX- đó là 7 Nguyễn Ngọc Hải (2014), Những điều kiện phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Phát triển Kinh tế xanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ: Những vấn đề đặt ra”, Đại học Ngoại Thương, Hà Nội tháng 3/2014, tr. 13 (1) nguyên lý bền vững; (2) nguyên lý sinh tồn; (3) nguyên lý hành tinh lành mạnh; (4) nguyên lý phẩm chất con người; (5) nguyên lý công bằng; (6) nguyên lý bao dung đùm bọc; (7) nguyên lý hiệu năng và đầy đủ; (8) nguyên lý quản lý tốt và trách nhiệm kiểm toán; (9) nguyên lý xuyên thế hệ và (10) nguyên lý sáng tạo có trách nhiệm (Phạm Minh Chính, 2013; Bùi Quang Tuấn, 2011; Nguyễn Quang Thuấn và Nguyễn Xuân Trung, 2012) Tác giả Nguyễn Thế Chinh trong bài báo khoa học “Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế theo hướng KTX ở Việt Nam” đã nêu lên được tính tất yếu và xu thế phát triển KTX ở Việt Nam, tầm quan trọng của KTX đối với sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu cũng đánh giá những thuận lợi và khó khăn từ yếu tố khách quan cũng như yếu tố bản chất của Việt Nam trong để đạt được nền KTX. Xây dựng nền KTX cần căn cứ vào nền tảng phát triển bền vững.
Phát triển bền vững phải được thực hiện trên cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Việt Nam đã ý thức rất rõ điều kiện này thể hiện qua việc ban hành “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” ngày 25/9/2012 trong đó nêu rõ “Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu”.2 Các nghiên cứu về phát triển kinh tế xanh trong chăn nuôi Niamir-Fuller (2015) đã nhấn mạnh rằng PTKTXCN đại diện cho một quá trình cách mạng trong ngành này, tập trung vào áp dụng nguyên tắc sản xuất và tiêu dùng ổn định dài lâu, giám sát và gìn giữ môi trường thiên nhiên, đồng thời thúc đẩy sự thịnh vượng toàn diện và lối sống tốt. Sự phát triển của chăn nuôi được đánh giá từ một góc độ toàn diện, trong đó sự kết nối sản xuất và tiêu dùng, cùng với hệ thống sản xuất thâm canh và quảng canh, đóng vai trò quan trọng. 14 Quan điểm này được bổ sung bởi David Brower và đồng nghiệp (2011), người đã đưa ra ý kiến rằng PTKTXCN có thể tăng cường tính bền vững của hệ thống cung cấp nguồn thực phẩm trên toàn thế giới.
Nếu tiếp tục cách sản xuất chăn nuôi như trước đây, tình trạng môi trường sẽ tiếp tục suy thoái, dẫn đến khả năng giảm sản xuất thực phẩm toàn cầu trong tương lai, góp phần vào sự biến động phức tạp của khí hậu và làm mất đi môi trường sinh thái đa sinh vật. Do đó, các tác giả đã định nghĩa PTKTXCN là một giải pháp hỗ trợ ngành nông nghiệp, khuyến khích sản xuất chăn nuôi xanh, bền vững, làm môi trường tốt lên góp phần thúc đẩy đa dạng các loài sinh vật, nhằm nâng cao điều kiện sống và cùng lúc hỗ trợ xây dựng một nền KTX bền vững và mạnh mẽ, có khả năng thích nghi và không gục ngã trước sự biến chuyển phức tạp của khí hậu. (2020) trong nghiên cứu "Green Livestock Farming Practices for Sustainable Development" đã tập trung vào cơ hội có thể tiến hành các biện pháp nuôi trồng động vật bền vững và không gây hại cho môi trường. Nghiên cứu này đề xuất một loạt các phương pháp và bộ máy quản lý nhằm nâng cao kết quả của quá trình sử dụng tài nguyên, đẩy các chỉ số gây hại môi trường xuống mức thấp nhất và gây dựng giá trị kinh tế bền vững trong ngành chăn nuôi.
Các điểm đáng lưu ý trong nghiên cứu bao gồm: i) Tối ưu hóa dinh dưỡng thức ăn: Nghiên cứu khám phá cách xây dựng hệ thống dinh dưỡng cho động vật một cách tốt nhất, kết hợp thức ăn hữu cơ và thức ăn tái chế để giảm lượng thải ra môi trường tự nhiên và giúp động vật có thể phát triển một cách tốt nhất; ii) Quản lý phân bón và chất thải: Nghiên cứu điều tra các cách thức để xử lý phân bón và chất thải từ chăn nuôi để giảm tác động đến nguồn nước và đất đai, bao gồm việc thay thế phân bón hóa học bằng phân bón hữu cơ từ phân động vật, các thực vật.