Nghiên cứu về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Luận án tiến sĩ phân tích cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, nêu rõ thách thức và giải pháp.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

191
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Các nghiên cứu về cơ động xã hội và cán bộ Nhà nước trên thế giới và Lào

1.2. Khái quát kết quả đã đạt được, hạn chế của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Những khái niệm cơ bản trong nghiên cứu cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước

2.2. Một số lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước

2.3. Quan điểm, chủ trương của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và chính sách, pháp luật của Nhà nước Lào về cán bộ Nhà nước

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ ĐỘNG XÃ HỘI TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NHÀ NƯỚC CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

3.1. Đặc điểm về kinh tế - xã hội của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay

3.2. Đặc điểm của đội ngũ cán bộ Nhà nước của Lào

3.3. Đặc điểm về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào

3.4. Thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước của Lào

4. CHƯƠNG 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CƠ ĐỘNG XÃ HỘI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NHÀ NƯỚC CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

4.1. Yếu về điều kiện kinh tế - xã hội và chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về cán bộ

4.2. Các yếu tố thuộc về cá nhân

KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào

Cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Cơ động xã hội không chỉ phản ánh sự thay đổi về vị trí công tác mà còn thể hiện sự phát triển của đội ngũ cán bộ trong việc đáp ứng yêu cầu của nhà nước Lào. Nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến cơ động xã hội của cán bộ nhà nước, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhân lực. Theo đó, phát triển xã hộichính sách công là hai yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy cán bộ nhà nước có khả năng thích ứng và phát triển trong môi trường làm việc hiện đại.

1.1. Tầm quan trọng của cơ động xã hội

Cơ động xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lựcphúc lợi cộng đồng của cán bộ nhà nước. Sự thay đổi trong vị trí công tác không chỉ giúp cán bộ phát triển bản thân mà còn góp phần vào sự phát triển chung của nhà nước Lào. Việc nâng cao năng lực cho cán bộ thông qua các chương trình đào tạo và bồi dưỡng là cần thiết để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quản lý cán bộ. Theo một nghiên cứu gần đây, có đến 70% cán bộ cho biết họ cảm thấy hài lòng với sự thay đổi trong công việc của mình, điều này cho thấy cơ động xã hội có tác động tích cực đến tâm lý và hiệu suất làm việc của họ.

II. Thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào

Thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Theo số liệu khảo sát, khoảng 60% cán bộ đã trải qua ít nhất một lần thay đổi vị trí công tác trong vòng 5 năm qua. Điều này cho thấy sự thay đổi xã hội diễn ra mạnh mẽ trong đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế như sự phân tầng trong cơ động xã hội và sự thiếu công bằng trong việc thăng tiến. Các yếu tố như hoàn cảnh kinh tếchính sách công của Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến khả năng cơ động xã hội của cán bộ. Nhiều cán bộ cho rằng họ gặp khó khăn trong việc thăng tiến do thiếu cơ hội và sự phân biệt trong quản lý cán bộ.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ động xã hội

Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ động xã hội bao gồm điều kiện kinh tế, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như nguồn gốc xuất thân của cán bộ. Nghiên cứu cho thấy, cán bộ có nguồn gốc xuất thân từ gia đình có điều kiện kinh tế tốt thường có nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Điều này dẫn đến sự phân hóa trong cán bộ nhà nước, gây ra sự bất bình đẳng trong cơ động xã hội. Hơn nữa, chính sách đào tạo cán bộ cũng cần được cải thiện để đảm bảo rằng tất cả cán bộ đều có cơ hội phát triển công bằng. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng lực của cán bộ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nhà nước Lào.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào

Để nâng cao cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Trước hết, cần cải cách chính sách công nhằm tạo ra môi trường làm việc công bằng và minh bạch hơn. Các chương trình đào tạo cán bộ cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu thực tế của nhà nước Lào. Hơn nữa, việc xây dựng một hệ thống đánh giá công bằng và minh bạch sẽ giúp cán bộ có cơ hội thăng tiến dựa trên năng lực thực sự. Cuối cùng, cần tăng cường sự tham gia của cán bộ trong quá trình ra quyết định để họ cảm thấy có trách nhiệm và gắn bó hơn với công việc của mình.

3.1. Cải cách chính sách công

Cải cách chính sách công là một trong những giải pháp quan trọng nhất để nâng cao cơ động xã hội. Cần thiết lập các quy định rõ ràng về quy trình thăng tiến và đánh giá cán bộ. Điều này sẽ giúp giảm thiểu tình trạng tham nhũng và lạm quyền trong quản lý cán bộ. Hơn nữa, việc áp dụng các công nghệ thông tin trong quản lý nhân sự sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong công tác cán bộ. Theo một nghiên cứu, việc áp dụng công nghệ thông tin đã giúp giảm thiểu thời gian xử lý hồ sơ thăng tiến của cán bộ xuống còn một nửa, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cơ động xã hội.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CƠ ĐỘNG XÃ HỘI VÀ CÁN BỘ NHÀ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ LÀO Trong phần này tác giả tập trung tìm hiểu các bài viết, bài nghiên cứu, công trình nghiên cứu của các nước trên thế giới và Lào về cơ động xã hội và cán bộ Nhà nước như các nghiên cứu chung, quan điểm, khái niệm, các loại hình cơ động xã hội và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Trong các công trình nghiên cứu, NCS tóm tắt những giá trị của các công trình nghiên cứu đã làm được,. Đưa ra quan điểm, đánh giá của NCS đối với các nghiên cứu và các đóng góp của các công trình nghiên cứu có liên quan.

Đồng thời chỉ ra những hạn chế và khoảng trống của các nghiên cứu cần tiếp tục hoàn thiện. Các nghiên cứu về cơ động xã hội và cán bộ nhà nước của các nước phương Tây - Nghiên cứu về cơ động xã hội nói chung Nghiên cứu về hiện tượng phân tầng xã hội nói chung, cơ động xã hội nói riêng với những khác biệt mang tính tầng lớp xã hội đã có lịch sử hàng ngàn năm. Thời Hy Lạp Cổ Đại ở phương Tây, các nhà triết học nổi tiếng như Socrates, Plato, Aristotle đều ít nhiều đề cập đến “mô hình xã hội” với các tầng lớp xã hội khác nhau trong mối quan hệ thống trị - bị trị. Trong cuộc cách mạng công nghiệp và những cuộc cách mạng xã hội ở Tây Âu, người ta đã chứng kiến một số giai cấp mới xuất hiện, một số giai cấp suy tàn, biến mất.

Trong bối cảnh đó, hàng loạt học giả đã nghiên cứu về các giai tầng, về sự khác biệt giữa các giai tầng trong xã hội. Nhà khoa học vĩ đại C. Mác đã đưa ra lý thuyết duy vật lịch sử làm cơ sở cho việc lý giải về sự hình thành các giai cấp và phân tích sự chuyển động của những cơ cấu xã hội cụ thể. Kế tục sự nghiệp của C.

Mác, Lênin đã có những công trình nghiên cứu sâu về kết cấu xã hội. Max Weber đã sử dụng sơ đồ 3 yếu tố: địa vị kinh tế (sở hữu tài sản và cơ may thị trường), địa vị chính trị (quyền lực) và địa vị xã hội (uy tín) để xây dựng lý thuyết về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội. Với sơ đồ phân tích này, ông mở rộng việc nghiên cứu cơ cấu xã hội không phải chỉ ở các giai cấp cơ bản mà còn là những tầng luan an 12 lớp khác nữa (giai tầng), không phải chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong các lĩnh vực khác. Đến khoảng cuối những năm 1920, nghiên cứu phân tầng xã hội và cơ động xã hội đã có nhiều phát triển về mặt thực nghiệm, đã lan sang nhiều nước trên thế giới [4].

Các nhà xã hội học ở phương Tây đã vận dụng lý thuyết phân tầng xã hội, cơ động xã hội của M. Weber, quan điểm chức năng luận, quan điểm xung đột để đẩy mạnh nghiên cứu phân tầng xã hội, cơ động xã hội về mặt thực nghiệm, qua đó góp phần làm rõ kết cấu giai tầng của các xã hội phát triển ở phương Tây, giúp cho các Nhà nước cầm quyền có thể kiểm soát và quản lý được tương đối hiệu quả sự vận động của xã hội [36]. Liên quan đến vấn đề này, vào cuối thế kỷ XIX, đã xuất hiện câu hỏi nổi bật về sự truyền thụ đặc điểm từ thế hệ này sang thế hệ khác là có tầm quan trọng. Ví dụ: Galton (1886), ông là người sáng tạo ra khái niệm hệ số tương quan trong thống kê và phát triển hồi quy về điểm trung bình.

Ông là người đầu tiên áp dụng các phương pháp thống kê đối với nghiên cứu về sự khác biệt của con người và tính di truyền của trí thông minh đó là “luật hồi quy” của di truyền, đây chính là cách tìm ra tại sao con cái trở nên tầm thường hơn bố mẹ. Trong những năm đầu thế kỷ XX, ở Mỹ, có rất nhiều nhà xã hội học nghiên cứu về vấn đề cơ động xã hội. Pitirim Sorokin, một trong những cha đẻ nổi tiếng trong việc phân tích cơ động xã hội và bàn về cơ động xã hội khá hệ thống. Ông đã nghiên cứu các loại hình xã hội trong lịch sử và kết luận rằng: chưa có bất kỳ xã hội nào hoàn toàn mở ra đầy đủ các cơ hội cho sự cơ động và cũng chưa có bất kỳ xã hội nào (ngay cả xã hội đẳng cấp của Ấn Độ) đóng cửa hoàn toàn những cơ hội cho sự cơ động xã hội.

Ông đưa ra luận điểm rằng, không bao giờ hai xã hội nào đó cho phép (hoặc hạn chế) có cùng một mức độ cơ động. Tốc độ của sự dịch chuyển xã hội hoặc thay đổi xã hội khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử. Tỷ lệ thay đổi phụ thuộc vào mức độ hiện đại hóa xã hội đó. Ngoài ra, Sorikin đã nghiên cứu sâu hơn đến vấn đề tính cơ động xã hội, ông cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên - xuống như thế nào mà phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới với vị trí của mình trong trật tự xã hội.

Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự cơ động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế - xã hội của nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đẩy và tạo ra cơ động xã hội [39]. luan an 13 Những quan tâm nghiên cứu cơ động xã hội của Joseph H. Fichter cũng có những nét tương đồng với Sorokin. Fichter nhấn mạnh rằng cơ động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện theo từng giai đoạn, ít nhiều tương tự như sự di chuyển của những người từ một nông trại qua một thành phố nhỏ, đến thành phố lớn rồi đi tới vùng ngoại ô.

Theo định nghĩa của James A. Barber một nhà nghiên cứu nổi tiếng về cơ động xã hội. Theo quan điểm của ông, cơ động xã hội đề cập đến một số dịch chuyển, hoặc lên hoặc xuống giữa các tầng lớp xã hội cao hơn hoặc thấp hơn; hay chính xác hơn, di chuyển giữa những vai trò được đánh giá là có ý nghĩa xã hội về mặt chức năng cao hơn hoặc thấp hơn. Sự dịch chuyển này như là một quá trình diễn ra theo thời gian, đối với các cá nhân, đây là sự di chuyển từ một vai trò và vị trí đã xảy ra với họ trong các loại tương tác xã hội khác nhau.

Sự cơ động phát sinh trong tương tác xã hội, khi từng cá nhân phản ứng với những người khác trong một loạt thay đổi về vai trò xã hội [4]. Với ý nghĩa này, cơ động “đem lại cho cá nhân nhiều hơn hoặc ít hơn những lợi ích mà nền kinh tế và xã hội đã cung cấp”. Ví dụ như con trai của một người của một nhân viên bán hàng trở thành một luật sư; con của một người đẩy xe kéo trở thành một bác sĩ… Trong mỗi trường hợp, một sự thay đổi trong vai trò giữa người cha và con trai đem lại cho người con nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống. Khi nghiên cứu cơ động xã hội trong xã hội Mỹ, theo LJ.Zelznick trong cuốn Xã hội học đã sử dụng bốn tiêu chí để xác định tính chất của cơ động xã hội.

Cái mới được đưa vào nghiên cứu của hai ông là thói quen, văn hóa, triển vọng di chuyển của dân chúng là những yếu tố quan trọng tác động đến sự cơ động xã hội [29]. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề “cơ động xã hội” trong nhiều tác phẩm khác nhau và ở những góc độ khác nhau nhưng phần lớn có quan điểm rằng: cơ động xã hội là đề cập đến sự di chuyển của các cá nhân hoặc các nhóm từ một vị trí của một hệ thống phân tầng xã hội này sang hệ thống phân tầng xã hội khác. Đây là sự di chuyển lên hay xuống của các nhóm trong xã hội mà họ đã được chỉ định. Trong đó, sự nổi lên của một người từ một nền tảng rất nghèo đến chức tổng thống (ví dụ, A.

Abdul Kalam, tổng thống của Ấn Độ) hoặc một số vị trí khác về uy tín, quyền lực hay phần thưởng tài chính lớn là một ví dụ về tính cơ động xã hội. Tính cơ động cả đi lên và đi xuống. Vì vậy, nó là một phong trào lên hoặc xuống trong các bậc thang xã hội hoặc trong địa vị xã hội. Đồng thời, trong một số xã hội, một số người luan an 14 không thể duy trì được thứ hạng lớp xã hội của họ, trong đó họ được sinh ra vì mất của cải hoặc có nghề nghiệp có thu nhập thấp và tình trạng cuộc sống cũng thấp hơn yêu cầu của xã hội đó.

Đây chính là những triệu chứng và quá trình di chuyển xuống. Trái ngược với điều này, những người có được tài sản, thu nhập, địa vị hoặc sự thay đổi trong công việc xếp hạng cao hơn cho thấy sự di chuyển lên trên. Và điều đó là một điều tất nhiên như Lipset và Bendix (1960) đã xác định tính cơ động xã hội là “một quá trình mà cá nhân di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác giữa các sắp xếp phân cấp như vậy được tìm thấy trong mỗi xã hội” [89, tr 424-426]. Trên thực tế, nghiên cứu về tính cơ động xã hội ở một khuôn khổ so sánh đã trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh đối diện với lý thuyết xung đột mệnh đề.

Một mặt, chuyên gia lý thuyết chức năng cho rằng phát triển kinh tế sẽ dẫn đầu các xã hội công nghiệp để trở nên công bằng hơn và tận hưởng tỷ lệ cơ động xã hội cao hơn (Blau & Duncan (1967); Kerr, Dunlop, Harbison và Myers (1960); Parsons (1960); Treiman (1970). Cùng đồng hành với các tác giả trên, theo Anthony Giddens trong tác phẩm “Introduction to Sociology” (Giới thiệu về xã hội học, 1991), ông cho rằng, “tính cơ động xã hội” đề cập đến sự di chuyển của các cá nhân và các nhóm xã hội giữa các vị trí kinh tế - xã hội khác nhau”. Trong đó, lượng cơ động xã hội thường được sử dụng như một chỉ số chỉ định về mức độ cởi mở và linh hoạt của xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào" của tác giả Ketmany Inthavong, dưới sự hướng dẫn của các giảng viên Nguyễn Đình Tấn và Phạm Minh Anh, tập trung vào việc phân tích và đánh giá cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước tại Lào. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại mà còn đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức cải thiện năng lực và sự linh hoạt của cán bộ nhà nước, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nhà nước và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý giáo dục, hay Luận văn về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình, giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý trong lĩnh vực du lịch. Cuối cùng, bài viết Luận văn về quản lý nhà nước đối với tôn giáo: Thực trạng và giải pháp hiệu quả cũng sẽ mang đến những thông tin bổ ích về quản lý tôn giáo trong bối cảnh hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề quản lý nhà nước tại Việt Nam và Lào.