phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực và năng lực công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Chƣơng 2: Thực trạng năng lực công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Đông Giang 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND HUYỆN 1. Công chức và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện 1. Khái niệm công chức Thuật ngữ “công chức” thường được hiểu một cách khái quát là những người được nhà nước tuyển dụng, nhận một công việc hoặc một nhiệm vụ nhất định, do Nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ nhà nước theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phạm vi xác định công chức là khác nhau đối với mỗi quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào thể chế chính trị, hệ thống pháp luật, cách thức tổ chức bộ máy và lịch sử, văn hóa dân tộc mỗi quốc gia.
Có những quốc gia coi công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN), đơn vị sự nghiệp hay các lực lượng vũ trang, công an). Trong khi đó, có những nước lại chỉ giới hạn những người làm việc trong các cơ quan QLNN hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Chẳng hạn như: các nước Anh, Singapore quan niệm công chức chỉ là những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các bộ thuộc Chính phủ. Trong khi đó, các nước Nga, Trung Quốc, Ba Lan thì quan niệm công chức bao gồm những người thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ quản lý hành chính của các bộ và của bộ máy hành chính thuộc các chính quyền địa phương.
Nước Pháp lại quan niệm “công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công”. Như vậy, quan niệm về công chức ở các quốc gia có sự khác biệt về phạm vi công chức cũng như nội hàm và địa vị pháp lý do đặc điểm văn hóa, kinh tế - xã hội, dân tộc…Nhưng cũng có những nét tương đồng như: đều quy định rõ công 7 chức là kết quả của sự tuyển chọn đặc biệt của Nhà nước, hoạt động của họ chịu sự điều chỉnh của Luật công chức. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn liền với sự phát triển của nền HCNN. Khái niệm công chức lần đầu tiên được đề cập đến trong văn bản của nhà nước là Sắc lệnh 76/SL về quy chế công chức Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký.
Trước đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 188/SL quy định về các hạng công chức, đó cũng được coi như văn bản pháp lý khởi đầu cho việc xây dựng đội ngũ công chức sau này của nhà nước ta. Tại Điều 1 của Sắc lệnh 76/SL quy định: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Theo quan niệm này thì công chức ở đây là những: Công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Do chính quyền nhân dân tuyển dụng; Giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ. Như vậy những người làm việc trong các cơ quan nhà nước khác không gọi là công chức.
Quan niệm này cũng giống quan niệm của một số nước, chỉ coi những người giữ những công việc thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước mới là công chức. Gần đây nhất, Quốc hội đã ban hành Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008, Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Điều 4 Luật cán bộ, công chức quy định như sau: Theo Luật cán bộ, công chức, công chức được định nghĩa như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi 8 chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Theo Nghị định 37/2014/NĐ-CP ban hành ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định: các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là các phòng, ban, văn phòng Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân có chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND, Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận, thị xã.
Như vậy, có thể hiểu “Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là những công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, bậc, chức danh trong biên chế và làm việc tại các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND huyện, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Đặc điểm, vai trò và nhiệm vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện - Đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện: Là một bộ phận trong hệ thống công chức HCNN, có chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND huyện trên nhiều lĩnh vực khác nhau, mặt khác cấp huyện là cấp trung gian làm nhiệm nhiệm vụ chuyển tải thông tin, tâm tư nguyện vọng của cấp dưới (UBND các xã, phường) lên cho tỉnh và ngược lại, chuyển tải mọi quyết sách, chủ trương của tỉnh đến với cấp xã, phường. Chính vì vậy, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện có một số đặc điểm như sau: + Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là cầu nối quan trọng giữa cấp tỉnh với cấp huyện và cấp xã. + Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, có tính thứ bậc, ngạch bậc rõ ràng, tuỳ theo tính chất, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ của công việc và được bổ nhiệm vào vị trí công tác theo thứ bậc đó.
- Vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa 9 phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện. Chính vì vậy, có thể nói công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện có vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng, vừa đóng vai trò tham mưu cho huyện, vừa có nhiệm vụ chuyển tải và hướng dẫn triển khai tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách từ trung ương đến địa phương; từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cấp xã. - Nhiệm vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện + Trình Ủy ban nhân dân UBND huyện các văn bản sau: Dự thảo quyết định; kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao; Dự thảo văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND huyện; Dự thảo văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, chức danh đối với Trưởng, Phó trưởng phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý. +Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện: Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các tổ chức, đơn vị của huyện theo quy định của pháp luật; Dự thảo quyết định, chỉ thị cá biệt thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.
+ Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao. + Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về đăng ký, cấp giấy phép, chứng chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện. 10 + Giúp Ủy ban nhân dân huyện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và các tổ chức phi chính phủ thuộc các lĩnh vực quản lý của cơ quan chuyên môn theo quy định của pháp luật. + Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
+ Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý đối với các chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. + Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ. + Triển khai công tác kiểm tra, thanh tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện.