Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông. 9 Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Đắk Nông. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH 1.
Bồi dƣỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh 1. Khái niệm a) Công chức Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, để chỉ những người giữ các vị trí làm việc khác nhau trong bộ máy hành chính nhà nước để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên công chức là một khái niệm có nội dung phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau. Do đặc thù của các quốc gia khác nhau nên khái niệm công chức cũng không được hiểu một cách thống nhất.
Có quốc gia quan niệm đội ngũ công chức là tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước bao gồm cả những người làm việc trong các đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ công của nhà nước. Có quốc gia chỉ coi là công chức đối với những người làm việc thường xuyên trong bộ máy hành chính nhà nước [17, tr. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước: Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về Quy chế công chức đã bước đầu hình thành khái niệm này, tuy nhiên phạm vi công chức rất hẹp, chỉ những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, tức là đội ngũ cán công chức hành chính nhà nước, theo cách nói hiện nay. Nghị định số 169/1991/NĐ-HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991 quy định: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong 11 một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay nước ngoài đã được sắp xếp vào ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức” [19].
Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 1998 về công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức nêu rõ: “Công chức bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước… những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên phải làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quan nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp” [5]. Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2000 và năm 2003 đã phân định rõ hơn các đối tượng cán bộ, công chức gồm: cán bộ, công chức hành chính; cán bộ, viên chức sự nghiệp; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và công chức dự bị. Trên cơ sở đó, Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 quy định: “Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, hoặc trong cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quan nhân chuyên nghiệp, phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [8]. Hiện nay, Luật Cán bộ, công chức ra đời năm 2008 đã quy định cụ thể hơn về công chức.
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào 12 ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [25]. b) Công chức trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh làm việc trong các Sở thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công chức trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là “người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh” [9]. Cụ thể, công chức làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc U ND tỉnh bao gồm: Giám đốc, hó giám đốc các ở, an, ngành; Trưởng phòng, hó Trưởng phòng và chuyên viên các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc các ở, an, ngành (không bao gồm người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công thuộc các ở, an, ngành) thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh.
Ở Việt 13 Nam, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh thường có 17 ở, ngành cơ bản gồm: ở Nội vụ; ở Tư pháp; ở Kế hoạch và Đầu tư; ở Tài chính; ở Công Thương; ở Nông nghiệp và hát triển nông thôn; ở Giao thông vận tải; ở ây dựng; ở Tài nguyên và Môi trường; ở Thông tin và Truyền Thông; ở ao động – Thương binh và ã hội; ở Văn hóa; Thông tin và Du lịch; ở Khoa học và Công nghệ; ở Giáo dục và Đào tạo; ở Y tế; Thanh tra tỉnh; Văn phòng Ủy ban nhân dân. Ngoài ra, trên cơ sở đặc thù được tổ chức ở mỗi địa phương mà có thể có thêm các cơ quan như ở Ngoại vụ, an Dân tộc, ở Quy hoạch – Kiến trúc hay một số cơ quan mang tính đặc thù khác [12]. c) Bồi dưỡng công chức ồi dưỡng là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu hoặc lạc hậu, củng cố những kỹ năng nghề nghiệp theo chuyên đề nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội bổ sung và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp sẵn có để lao động một cách có hiệu quả hơn. ồi dưỡng chính là hoạt động nhằm trang bị kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nhưng không gắn liền với văn bằng, cũng không nhất thiết do cơ sở đào tạo thực hiện mà quan trọng là bổ sung, tăng cường kinh nghiệm, rèn luyện các kỹ năng để đáp ứng yêu cầu công việc và hoạt động bồi dưỡng thường chiếm thời gian ngắn (vài ngày hoặc vài tháng).
Tóm lại, về cơ bản bồi dưỡng là một hoạt động nhằm trang bị, cập nhật, bổ sung thêm một số kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng cần thiết; mở rộng hiểu biết trên nền tảng kiến thức đã được đào tạo cơ bản; cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng., từ đó nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của con người, góp phần tăng hiệu quả công tác, công việc. 14 ồi dưỡng công chức là hoạt động nhằm bổ sung kiến thức về quản lý nhà nước, lý luận chính trị, pháp luật, tin học, ngoại ngữ…; các kỹ năng lãnh đạo, quản lý như: kỹ năng xây dựng hoạch định chính sách; kỹ năng tổ chức và điều hành công sở; kỹ năng giao tiếp;… và các nghiệp vụ khác được thực hiện theo từng lĩnh vực chuyên môn. ồi dưỡng công chức nhằm giúp công chức trong cơ quan nhà nước có những kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu khi mà những kiến thức, kỹ năng được đào tạo trước đây đã không phù hợp, không đủ để thực hiện có hiệu quả hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan đó. ự thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội diễn ra thường xuyên, mạnh mẽ dưới tác động của quá trình hội nhập, hợp tác giữa các nước và sự tiến bộ khoa học – công nghệ, phát triển của khoa học quản lý làm cho những kiến thức và kỹ năng hoạt động chuyên môn của công chức trong mỗi cơ quan luôn bị lạc hậu đòi hỏi phải được bồi dưỡng thường xuyên.
Đó cũng là một trong những lý do cơ bản của triết lý học tập liên tục, học tập suốt đời của tất cả công chức trong các tổ chức nhà nước cũng như những người làm việc ngoài nhà nước, đặc biệt trong một xã hội hiện đại, tri thức không ngừng được mở rộng, nâng cao. Bồi dưỡng đồng thời cũng giúp công chức không ngừng học tập, nâng tầm hiểu biết, mở mang kiến thức của bản thân, làm cho kho tàng tri thức của mình ngày càng giàu lên. Bồi dưỡng cũng nhằm trau dồi lại những kiến thức đã học, cập nhật thêm những kiến thức mới giúp cho công chức có được cái nhìn mới hơn và hướng giải quyết hiệu quả hơn các vấn đề trong công việc của mình. Bồi dưỡng cũng chính là trao dồi để thành thục hơn các kỹ năng, nghiệp vụ đã có nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác.
Theo khoản 2 Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức, thì “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [10].