Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN 1. Khái niệm, đặc điểm công chức tại các cơ quan chuyên môn 1. Khái niệm công chức Căn cứ vào Luật CBCC 2008, ngày 25 tháng 01 năm 2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP tại Điều 2 và Thông tư hướng dẫn số 08 ngày 02 tháng 06 năm 2011của Bộ Nội vụ tại Điều 1, quy định những người là CC như sau: “CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này”. Xuất phát từ những quy định của Luật CBCC 2008 và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP khái niệm CC nhà nước có thể được hiểu như sau: CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với CC trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được 8 bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Khái niệm công chức tại các cơ quan chuyên môn Hiện nay, trong hệ thống pháp luật và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành trung ương chưa có khái niệm chính thức về CC tại các CQCM mà chỉ nói chung như một thành phần chủ yếu trong khái niệm "CBCC nhà nước". CQCM được quy định tại các Nghị định của Chính phủ số 24/2015/NĐ-CP ngày 04/4/2014 quy định tổ chức các CQCM thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các CQCM thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [8], cụ thể như sau: CQCM thuộc UBND là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban cùng cấp thực hiện chức năng QLNN ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. CQCM gồm CQCM cấp tỉnh và CQCM cấp huyện. - CQCM thuộc UBND cấp tỉnh gọi là CQCM cấp tỉnh gồm có sở và cơ quan ngang sở (gọi chung là sở).
Sở là cơ quan thuộc UBND cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh. - CQCM thuộc UBND cấp huyện gọi là CQCM cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tương đương phòng (gọi chung là phòng). 9 Phòng thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế CC, cơ cấu ngạch CC và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của CQCM thuộc UBND cấp tỉnh.
Do đó, các cơ quan sau đây không thuộc các CQCM như: - Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế và Ban Quản lý có tên gọi khác thuộc UBND cấp tỉnh; - Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp tỉnh và các tổ chức thuộc cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương. - Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc UBND cấp huyện, các cơ quan của Trung ương được tổ chức theo ngành dọc, cơ quan của sở và cơ quan tương đương sở thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đặt tại huyện. Như vậy ta có thể khái niệm CC tại các CQCM là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh làm việc tại các CQCM cấp tỉnh hoặc cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đặc điểm công chức tại các cơ quan chuyên môn CC tại các CQCM là người trực tiếp thực hiện các chức năng hành pháp cụ thể là thực thi công vụ, quản lý và điều hành đất nước theo pháp luật và làm cho đất nước phát triển trên cơ sở đảm bảo kỷ luật kỷ cương Nhà nước.
10 Với chức năng đó, bộ máy nhà nước đòi hỏi phải có đội ngũ CBCC quản lý mang tính chất chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn và được ĐTBD về kỹ năng, nghiệp vụ và thường xuyên cập nhật kiến thức cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội. Khái niệm, chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ quan chuyên môn 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ quan chuyên môn 1. Khái niệm đào tạo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) định nghĩa đào tạo là: “Quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống theo những tiêu chuẩn nhất định, để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống, có khả năng nhận sự phân công lao động xã hội nhất định” [50, tr.
Như vậy, đào tạo được coi là sau một quá trình lĩnh hội tri thức làm cho người được đào tạo có thêm kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo tiêu chuẩn nhất định do yêu cầu, đòi hỏi của công việc. Đào tạo CC tại các CQCM để giúp cho họ đạt được những yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo tiêu chuẩn chung đối với từng ngạch, chức danh của từng CC và phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của từng vị trí việc làm của CC đảm nhiệm trong CQCM. Đào tạo CC nói chung, trong đó có CC tại các CQCM, chỉ giới hạn trong phạm vi điều chỉnh của Luật CBCC và một số văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan; được tiến hành chủ yếu ở các cơ sở đào tạo CBCC được Đảng và nhà nước giao nhiệm vụ như: Học viện Hành chính; các Học viện, Trường, Trung tâm ĐTBD CC của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan 11 thuộc Chính phủ; các Trường Chính trị; các Trung tâm Chính trị trong cả nước nhằm thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước ta hiện nay. Trước đây, trong công tác ĐTBD CBCC chúng ta thường sử dụng khái niệm “đào tạo lại” để nói đến quá trình ĐTBD những kiến thức mới cho CBCC khi có nhu cầu hoặc do có sự thay đổi vị trí việc làm nên yêu cầu phải được cập nhật bổ sung kiến thức mới.
Hiện nay, khái niệm này không còn được sử dụng bởi tính đa nghĩa của nó. Khái niệm “đào tạo” trong “ĐTBD CC” cũng có nhiều ý nghĩa khác nhau so với khái niệm đào tạo thuần túy được sử dụng chung trong xã hội và hệ thống giáo dục quốc dân. Bởi, “đào tạo” trong “ĐTBD CC” gần giống với “bồi dưỡng”. Nhưng khác với “bồi dưỡng” là đào tạo còn trang bị kiến thức, kỹ năng mới mà trước đó người CC có thể chưa được học, chưa được đào tạo.
Khái niệm bồi dưỡng Bồi dưỡng là thời gian cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc không còn phù hợp và bổ túc thêm những kinh nghiệm. Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người học có cơ hội để củng cố, nâng cao kiển thức một cách hệ thống những tri thức kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ sẵn có để làm việc có hiệu quả hơn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hoặc Giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng. Do đó, bồi dưỡng là giai đoạn tiếp theo sau đào tạo, việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên được tổ chức nhằm bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; nâng cao năng lực nói chung cho những người được cử đi bồi dưỡng. Theo Điều 5 Nghị định số 18/CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 xác định: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc.
Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho từng ngạch CC. 12 Đối với CC tại các CQCM, việc bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ, về các chính sách, pháp luật, về ngoại ngữ, tin học. là yêu cầu hết sức quan trọng, đòi hỏi phải được tiến hành một cách thường xuyên với những nội dung thích hợp. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự lan tỏa của thông tin.
Theo đó Nhà nước luôn có sự cải cách, đổi mới để thưo kịp sự phát triển chung của xã hội. Do vậy, bồi dưỡng kiến thức cho CC tại các CQCM về quản lý hành chính và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ là vấn đề mang tính cấp thiết, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, ưu tiên hàng đầu. Nếu đào tạo được xem như là một quá trình trang bị, kiến thức mới mà trước đó người CC chưa được đào tạo thì bồi dưỡng được xem là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức kỹ năng nghiệp vụ, nghề nghiệp.