CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ 1. Quan niệm về công chức cấp xã và công chức Văn phòng - thống kê cấp xã 1. Khái niệm công chức, công chức cấp xã và công chức Văn phòng -thống kê cấp xã Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau giữa các quốc gia. Theo quan niệm của Pháp "Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc các công sở Nhà nước".
Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính. Ở Mỹ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính. Đối với Nhà nước ta, ngay từ ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức. Công chức được hình thành và gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước.
Luật cán bộ, công chức năm 2008 ( có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010) là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay (luật) và đưa ra khái niệm về công chức, công chức cấp xã được rõ ràng hơn. Tại Điều 4 luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định : Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, 9 tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân Quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Tại khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định : Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Tại điểm 2 Điều 3 Chương II Nghị định số 92/2009/NĐ – CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định : Công chức cấp xã là những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã gồm các chức danh như : - Trưởng công an; - Chỉ huy trưởng Quân sự; - Văn phòng – thống kê; - Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường ( đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường ( đối với xã); 10 - Tài chính – kế toán; - Tư pháp – hộ tịch; - Văn hóa – xã hội; Cấp xã là đơn vị cơ sở của hệ thống chính quyền nhà nước.
Công chức Văn phòng – thống kê là những người nằm trong hệ thống bộ máy quản lý hành chính đó. Như vậy công chức Văn phòng – thống kê cấp xã là một trong những chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, có đặc điểm riêng và được hiểu như sau: Công chức Văn phòng – thống kê cấp xã là người giúp Ủy ban nhân dân làm công tác chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm “Chủ trì, phối hợp với công chức khác xây dựng và theo dõi việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội; tổng hợp, thống kê, báo cáo tình hình phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp xã; dự thảo các văn bản theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã”. Thực hiện đúng nhiệm vụ theo quy định tại Thông tư số 06/2012/TT- BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ quy định về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ của công chức cấp xã. Vai trò của UBND cấp xã Điều 2 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định: “UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên”.
Theo đó: UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do HĐND cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước HĐND cấp xã và cơ quan nhà nước cấp trên về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, tiến hành 11 hoạt động quản lý hành chính trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: tài chính và ngân sách; nông-lâm-ngư nghiệp; thủy lợi; tiểu thủ công nghiệp; an ninh quốc phòng; trật tự an toàn xã hội; giao thông vận tải; đất đai; chứng thực; hộ tịch… UBND cấp xã là cầu nối, là nơi giao lưu trực tiếp giữa Nhà nước và nhân dân, đồng thời cấp xã là nơi biểu hiện tập trung nhất, rõ nhất những ưu việt hay hạn chế của chế độ XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi”.
Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của cấp xã ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. UBND cấp xã là nơi thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả của chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Đây là nơi trực tiếp thực thi, kiểm nghiệm và phản ánh tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thể chế, chính sách. Do đó, chất lượng của hệ thống thể chế chính sách phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp cơ sở.
Đồng thời, UBND cấp xã là nơi phản ánh tâm tư nguyện vọng và lợi ích của nhân dân địa phương. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách đều được xuất phát từ cơ sở và hướng về cơ sở. Không ai khác ngoài cấp cơ sở hiểu rõ và đảm nhận vai trò thu thập, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân địa phương; đồng thời giúp Nhà nước đề ra các biện pháp tổ chức, quản lý phù hợp với đặc điểm của một địa phương, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương. Đặc điểm của công chức Văn phòng - thống kê cấp xã UBND cấp xã có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, công chức cấp xã hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân địa phương và cơ quan quản lý cấp trên.
Là một bộ phận rất quan 12 trọng, bởi vậy đội ngũ công chức cấp xã phải đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất, năng lực và trình độ theo quy định chung đối với công chức. Công chức Văn phòng – thống kê cấp xã bên cạnh những yêu cầu ấy cũng có những đặc điểm riêng mang tính chuyên biệt so với các công chức khác theo quy định của pháp luật đối với chức danh công chức Văn phòng – thống kê. Đặc điểm của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã được xác định bởi vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn trong tổ chức hoạt động của UBND cấp xã. - Về vị trí, vai trò: Công chức Văn phòng – thống kê cấp xã là những người hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Cùng với đội ngũ công chức trong hệ thống chính trị ở cấp xã, công chức Văn phòng – thống kê cấp xã là người thay mặt nhà nước thực thi công vụ, phục vụ nhân dân địa phương, là người tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong các lĩnh vực: Văn phòng, thống kê, tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và thanh niên trên địa bàn theo quy định của pháp luật, là người trực tiếp xây dựng và theo dõi việc thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác của UBND cấp xã. Công chức Văn phòng – thống kê cấp xã là một trong các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, là người gắn bó với địa bàn, vì vậy họ hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của người dân nơi mình sống và làm việc, hiểu rõ đặc điểm kinh tế xã hội, điểm mạnh điểm yếu của địa phương, điều này giúp cho họ giải quyết công việc một cách hiệu quả, thấu tình đạt lý và đúng theo quy định của pháp luật. - Về chức năng, nhiệm vụ: Người giữ chức danh Văn phòng – thống kê cấp xã làm công tác chuyên môn thuộc UBND cấp xã, có trách nhiệm giúp UBND cấp xã quản lý nhà nước về công tác Văn phòng – thống kê trong 13 phạm vi địa phương. Thực hiện đúng nhiệm vụ quy định tại Thông tư số 06/2012/TT- BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ quy định về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ của công chức cấp xã.