Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành kiểm sát Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH KIỂM SÁT 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức của Viện kiểm sát nhân dân 1. Lý luận về cán bộ, công chức 1. Khái niệm Khái niệm cán bộ, công chức đã được quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008.
Cụ thể như sau: Cán bộ: “ án bộ là công dân Việt Nam, đ c bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng ộng sản Việt Nam, Nhà n ớc, tổ chức ch nh tr - x hội trung ơng, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng (sau đây gọi chung là c p tỉnh), huyện, quận, th x , thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là c p huyện), trong biên chế và h ng l ơng từ ngân sách nhà n ớc. Công chức: “ ông chức là công dân Việt Nam, đ c tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng ộng sản Việt Nam, Nhà n ớc, tổ chức ch nh tr - x hội trung ơng, c p tỉnh, c p huyện trong cơ quan, đơn v thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là s quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn v thuộc ông an nhân dân mà không phải là s quan, hạ s quan chuyên nghiệp và trong bộ máy l nh đạo, quản lý của đơn v sự nghiệp công lập của Đảng ộng sản Việt Nam, Nhà n ớc, tổ chức ch nh tr - x hội (sau đây gọi chung là đơn v sự nghiệp công lập), trong biên chế và h ng l ơng từ ngân sách nhà n ớc đối với công chức trong bộ máy l nh đạo, quản lý của đơn v sự nghiệp công lập thì l ơng đ c bảo đảm từ qu l ơng của đơn v sự nghiệp công lập theo quy đ nh của pháp luật” (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII, 2008). 6 Để hướng dẫn thi hành Luật cán bộ, công chức, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Nghị định số 06/2010/NĐ- CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là "Công dân Việt nam, đ c tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, h ng l ơng từ ngân sách nhà n ớc hoặc đ c bảo đảm từ qu l ơng của đơn v sự nghiệp công lập theo quy đ nh của pháp luật”. Tại khoản 2 Điều 1 Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và viên chức quy định “ ông chức là công dân Việt Nam, đ c tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh t ơng ứng với v tr việc làm trong cơ quan của Đảng ộng sản Việt Nam, Nhà n ớc, tổ chức ch nh tr - x hội trung ơng, c p tỉnh, c p huyện trong cơ quan, đơn v thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là s quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn v thuộc ông an nhân dân mà không phải là s quan, hạ s quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và h ng l ơng từ ngân sách nhà n ớc”.
Như vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc Việt Nam; các tổ chức chính trị xã hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, VKSND từ cấp Trung ương đến cấp huyện (gọi chung là VKSND). Đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức Một là: Đội ngũ CBCC là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ. Đội ngũ CBCC là những người có vị trí trong hệ thống cơ quan HCNN, có chức năng thực thi 7 pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội. Để thực hiện công vụ, CBCC được Nhà nước cung cấp các điều kiện cần thiết để tiến hành thực thi công vụ như trụ sở, phương tiện, điều kiện làm việc, được đảm bảo các quyền lợi vật chất và tinh thần như: hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp khác bằng tiền hoặc hiện vật và lương hưu khi đủ thời gian cống hiến, được khen thưởng… Hai là: Đội ngũ CBCC là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hoá cao.
Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện quyền lực của Nhà nước để điều hành, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội theo pháp luật vì lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội, nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển. Ba là: Đội ngũ CBCC tương đối ổn định, mang tính kế thừa, nhưng luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao về chất lượng. Hiện nay, xã hội không ngừng phát triển; đối tượng điều chỉnh của pháp luật ngày càng mở rộng và phức tạp hơn; yêu cầu của nhân dân về chất lượng phục vụ ngày càng cao. Trước thực tế khách quan đó, đòi hỏi đội ngũ CBCC phải luôn được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Bốn là: Hoạt động của đội ngũ CBCC diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp. Các cơ quan nhà nước được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến cơ sở thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành toàn bộ các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh với các mặt hoạt động hết sức phong phú và phức tạp gồm tài chính, ngân sách Nhà nước, kế toán, kiểm toán, thống kê, tín dụng, bảo hiểm, tài sản công, khoa học, công nghệ, môi trường, kế hoạch, xây dựng, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, nông nghiệp, y tế, văn hoá, giáo dục… Tất cả các hoạt động đó đều liên quan hàng ngày và trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của tất cả mọi người dân, đòi hỏi hệ thống các cơ quan quản lý HCNN và đội ngũ CBCC phải đủ năng lực, thẩm quyền để giải quyết tất cả 8 các vấn đề thuộc phạm vi quản lý, điều hành một cách nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả. Năm là: Đội ngũ CBCC phải am hiểu, tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, Nhà nước phải giải quyết các quan hệ pháp lý mang yếu tố quốc tế, đồng thời phải ký kết và thực hiện các công ước quốc tế, các tập quán và thông lệ quốc tế trong tất cả các lĩnh vực.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đội ngũ CBCC phải có tri thức, phải am hiểu, tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế. Đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức của VKSND Bên cạnh những đặc điểm chung, đội ngũ CBCC của VKSND có những điểm đặc thù sau đây: Thứ nh t, CBCC thuộc VKSND phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, không những là người chấp hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà còn là người thực thi và bảo vệ pháp luật. Họ là những người thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Luật cán bộ, công chức và hệ thống luật pháp có liên quan, như Luật Hành chính, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các đạo luật quy định về chức danh tư pháp…; Thứ hai, CBCC là người thực hiện quyền lực của nhà nước trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN, bảo vệ pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, việc thực thi công vụ của CBCC có tính pháp lý cao và phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.
Thứ ba, CBCC của VKSND có mối quan hệ công tác với các cơ quan nhà nước cấp trên, với các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án dân sự, lãnh đạo UBND các cấp) và người dân. Như vậy, khi thực thi công vụ, CBCC giải quyết nhiều mối quan hệ khác nhau. Để hoàn thành nhiệm vụ đòi hỏi sự khéo léo và các kỹ năng của CBCC. 9 Thứ t , về trình độ, năng lực và kỹ năng làm việc của CBCC tại VKSND: là những người trực tiếp đưa đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước vào trong cuộc sống, bảo vệ pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương có đảm bảo để địa phương phát triển được hay không, có đảm bảo được quyền lợi của người dân trên địa bàn hay không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ CBCC. Vai trò, ngh a vụ, quyền hạn của đội ngũ cán bộ, công chức a. Vai trò Vai trò của đội ngũ CBCC được thể hiện qua bốn mối quan hệ sau: Một là, quan hệ với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước: Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, có sự tham gia của nhiều chủ thể xã hội, trong đó có nền công vụ Nhà nước. Nền công vụ đóng vai trò chủ yếu trong việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng bằng việc thể chế hoá các nghị quyết của Đảng thành pháp luật và được thực thi trong xã hội, qua đó giúp Đảng đánh giá, điều chỉnh các chủ trương, đường lối cho phù hợp với thực tiễn.