Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. Khái niệm, đặc điểm, quản lý nhà nước về an sinh xã hội 1.1 Khái niệm Quản lý nhà nước (QLNN) Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi [1]. QLNN được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lí hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [1].2 Đặc điểm, chủ thể tham gia quản lý nhà nước về an sinh xã hội 1.1 Đặc điểm quản lý nhà nước [1] - QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước. - QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh. Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội. Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội.
- QLNN mang tính khoa học, tính kế hoạch. Đặc trưng này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối lên đối tượng quản 6 lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học. Cơ cấu, hệ thống tham gia hoạt động quản lý nhà nước [1] Cơ cấu, hệ thống QLNN bao gồm các yếu tố tạo thành: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý trong quá trình quản lý. - Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý.
Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức. Hệ thống quản lý nhà nước là một tập hợp các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội được nhà nước uỷ quyền. Trong các cơ quan tổ chức đó, cán bộ, công chức nhà nước được xác định cụ thể về quyền và nghĩa vụ, được xây dựng theo hệ thống chức năng chiều dọc, tạo ra cơ cấu quản lý phù hợp với chức năng quản lý của từng lĩnh vực theo các cơ quan nhà nước và theo nghành. - Khách thể quản lý: là hệ thống các hành vi, hoạt động của con người, các tổ chức trong cuộc sống xã hội, là hệ thống trong đó bao trùm các lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất các giá trị vật chất và tinh thần cũng như các điều kiện sống của con người trong xã hội.
Có thể chia khách thể của quản lý nhà nước theo các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. - Đối tượng quản lý: Đối tượng quản lý nhà nước chính là con người, hay cụ thể hơn là hành vi con người trong xã hội. Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau có thể phân chia đối tượng quản lý nhà nước ra nhiều loại, như các cấp độ đối tượng quản lý (con người, tập thể, toàn bộ hệ thống tổ chức). - Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước.
Các yếu tố tạo nên hoạt động của QLNN gồm:Mục đích nhiệm vụ của quản lý nhà nước; phương pháp quản lý nhà nước và chương trình quản lý nhà nước. - Mục đích, nhiệm vụ của QLNN là mục tiêu hướng tới của chủ thể quản lý đối với đối tượng bị quản lý. 7 - Phương pháp QLNN là phương thức, cách thức mà chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý (hành vi, đối tượng quản lý) nhằm đạt được những mục đích quản lý. Các phương pháp quản lý trong hoạt động quản lý nhà nước là: thuyết phục, cưỡng chế, hành chính, kinh tế, theo dõi, kiểm tra; ngoài ra còn những phương pháp riêng áp dụng trong quá trình thực hiện những chức năng riêng biệt hoặc những khâu những giai đoạn riêng biệt của quá trình quản lý.
- Chương trình quản lý được diễn ra kế tiếp nhau theo trình tự thời gian tương ứng với việc giải quyết một số nội dung trong quản lý như: đánh giá tình hình các vấn đề cần giải quyết; chuẩn bị dự thảo quyết định; thông qua quyết định; ban hành quyết định; tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra đánh giá thực hiện các quyết định. Khái niệm, nguyên tắc và các chức năng cơ bản của công tác an sinh xã hội 1. Khái niệm an sinh xã hội (ASXH) An sinh xã hội (Social Security) là khái niệm được ra đời ở các nước công nghiệp phát triển từ cuối thế kỷ XIX và hiện nay đã phát triển rộng khắp trên toàn cầu. Theo Ngân hàng Thế giới (WB): “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”.
Quan niệm này nhấn mạnh đến các giải pháp nhằm kiềm chế nguy cơ làm giảm thu nhập của các cá nhân, gia đình và cộng đồng. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp[2]. Quan niệm này nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): ASXH là một hệ thống chính sách công (CSC) nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các 8 hộ gia đình và cá nhân.
Quan niệm này nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động bất lợi đến các cá nhân và hộ gia đình [2]. Tại Việt Nam, có nhiều tác giả khác nhau, tùy theo lĩnh vực nghiên cứu của mình lại đưa ra các khái niệm khác nhau về an sinh xã hội: ASXH là một hệ thống cơ chế chính sách, biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã hội làm cho họ có nguy cơ bị sút giảm nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không có sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa ., thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và hỗ trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ đặc biệt[3]. - An sinh xã hội là hệ thống các chính sách và các chương trình do nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm đảm bảo mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản [4]. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm an sinh xã hội (ASXH): là hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước và các lực lượng xã hội thực hiện nhằm bảo đảm cho mọi người dân ít nhất có được mức tối thiểu về thu nhập, có cơ hội tiếp cận ở mức tối thiểu về các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin,.
thông qua việc nâng cao năng lực tự an sinh của người dân và sự trợ giúp của Nhà nước; hỗ trợ cho các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc gặp rủi ro, bất hạnh, rơi vào tình trạng nghèo đói, hoặc là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, qua đó động viên, khuyến khích họ tự lực vươn lên giải quyết vấn đề của chính mình. Cơ sở của công tác an sinh xã hội [2] - Công bằng xã hội: Tính công bằng trong ASXH biểu hiện ở việc tính toán mức độ đóng góp, cống hiến cho xã hội mà giải quyết các chế độ đảm bảo vật chất hoặc tinh thần cụ thể nhằm tránh gây nên sự thiệt thòi, thiếu cân đối giữa các đối tượng chính sách. - Nhà nước thống nhất quản lí: Nhà nước có trách nhiệm tổ chức các biện pháp bảo đảm xã hội đối với các đối tượng bị giảm hoặc mất thu nhập, ban hành các văn bản hướng dẫn để điều chỉnh các hoạt động của ASXH. Thường xuyên kiểm tra giám sát việc triển khai thực hiên công tác ASXH; xử lí nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về ASXH, hỗ trợ nguồn kinh phí ổn định để thực hiện công tác ASXH.
Nguyên tắc, ý nghĩa của công tác an sinh xã hội [2] - Nguyên tắc toàn diện: phải đảm bảo tính toàn diện, không được loại trừ bất kì đối tượng nào nằm trong diện cần được giúp đỡ. - Nguyên tắc cộng đồng: Việc xây dựng và vận hành hệ thống chính sách xã hội phải trên tinh thần đề cao tính cộng đồng về trách nhiệm. Thực hiên công tác ASXH không chỉ dựa vào Nhà nước mà nó còn phải có sự hỗ trợ của mọi cá nhân, tổ chức trong cộng đồng. - Ý nghĩa của an sinh xã hội: Góp phần ổn định đời sống của người lao động khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, đảm bảo ổn định cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội; Tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa ngườilaođộng,người sử dụng lao động và Nhà nước; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.