Chương 1: Một số vấn đề về tiền lương, tiền thưởng và sự cần thiết phải hoàn thiện công tác tiền lương, tiền thưởng trong các doanh nghiệp - Chương 2: Phân tích và đánh giá công tác tiền lương, tiền thưởng tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bắc Giang - Chương 3: Một số cải tiến nhằm hoàn thiện công tác tiền lương, tiền thưởng tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bắc Giang CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIỀN LƢƠNG, TIỀN THƢỞNG VÀ 8 z SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TIỀN LƢƠNG, TIỀN THƢỞNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trƣờng, các quy luật kinh tế phát triển một các khách quan, đòi hỏi quan điểm, định hƣớng mới về tiền lƣơng và thị trƣờng lao động. Theo kinh tế học nhân lực, thị trƣờng lao động là nơi mà ở đó diễn ra sự phân bổ những ngƣời lao động cho các công việc và điều phối các quyết định thuê mƣớn lao động.
Cũng nhƣ mọi thị trƣờng khác, thị trƣờng lao động cũng có cung và cầu. Cung lao động là lƣợng lao động mà ngƣời làm thuê có thể chấp nhận làm việc ở mỗi mức giá nhất định. Cầu lao động là lƣợng lao động mà ngƣời thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có thể chấp nhận đƣợc. Sự vận động của cung và cầu lao động sẽ chi phối số lƣợng lao động tham gia thị trƣờng lao động cũng nhƣ hình thành mức tiền công của các loại lao động.
Cung > cầu thì tiền công giảm, cung < cầu thì tiền công tăng. Tuy nhiên nếu quá nhấn mạnh vào các quy luật thị trƣờng đến cơ chế tiền lƣơng, thƣờng tiềm ẩn những bất cập nhƣ: trả lƣơng quá thấp so với sức lao động bỏ ra, thất nghiệp, sự chênh lệch giàu nghèo, bố trí lao động không hợp lý, … vì vậy sự kết hợp giữa thị trƣờng và vai trò của Nhà nƣớc trong việc vận hành cơ chế tiền lƣơng là cần thiết. Trong Bộ luật lao động Nƣớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2007, 9 z tại điều 55, Chƣơng VI “Tiền Lƣơng” có ghi: “Tiền lƣơng của ngƣời lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng và đƣợc trả theo năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả công việc. Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Nhà nƣớc quy định.” Nhƣ vậy, có thể nêu khái niệm tiền lƣơng trong điều kiện hiện nay nhƣ sau: Tiền lương là phần thù lao lao động được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp (người sử dụng lao động) trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng công việc của họ đã làm, tuân theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị và pháp luật của Nhà nước.
Các thời kỳ khác nhau, quan niệm về tiền lƣơng cũng đƣợc hiểu theo các cách khác nhau: Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tiền lƣơng đƣợc hiểu là một phần của thu nhập quốc dân, biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ, đƣợc Nhà nƣớc phân phối có kế hoạch cho công nhân viên chức phù hợp với số lƣợng và chất lƣợng lao động của mỗi ngƣời đã cống hiến. Tiền lƣơng phản ánh việc trả công cho công nhân viên chức dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động. Theo cách hiểu này thì: - Tiền lƣơng không phải giá cả sức lao động vì lao động không phải là hàng hoá, cả trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng nhƣ khu vực quản lý Nhà nƣớc xã hội. - Tiền lƣơng là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối lại thu nhập quốc dân.
- Tiền lƣơng đƣợc coi là một bộ phận thu nhập quốc dân, đƣợc Nhà nƣớc quản lý kế hoạch hoá một cách tập trung thống nhất từ Trung ƣơng, coi 10 z đó là một bộ phận của Ngân sách quốc gia. Khi nền kinh tế nƣớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng, quan niệm trên đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót về vai trò của yếu tố sức lao động và bản chất của tiền lƣơng trong sản xuất kinh doanh. Đó là: Thứ nhất: Vì không coi sức lao động là hàng hoá nên tiền lƣơng không phải là tiền trả theo đúng giá trị của sức lao động, không phải là ngang giá của sức lao động theo quan hệ cung cầu. Do vậy, những năm tồn tại mô hình kinh tế mệnh lệnh đã phổ biến hiện tƣợng phân phối theo chủ nghĩa bình quân.
Thị trƣờng lao động về danh nghĩa không tồn tại trong nền kinh tế quốc dân. Các quan hệ thuê mƣớn lao động dù manh nha ở một số địa phƣơng, khu vực nhƣng cũng chƣa thể nói sức lao động đƣợc coi là hàng hoá. Trong khu vực kinh tế Nhà nƣớc áp dụng chính sách biên chế suốt đời, Nhà nƣớc bao cấp tiền lƣơng, trả lƣơng trong doanh nghiệp không thực sự gắn liền với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Thứ hai: Tiền lƣơng đƣợc coi là một bộ phận của thu nhập quốc dân nên cơ sở phân phối tiền lƣơng phụ thuộc vào vấn đề phân phối thu nhập do Nhà nƣớc quy định.
Theo cơ chế phân phối này, thu nhập quốc dân còn nhiều thì phân phối nhiều, còn ít thì phân phối ít, nhiều khi không tính đến một cách đầy đủ sự bù đắp chi phí lao động. Kết quả là biên chế lao động ngày càng lớn, ngân sách thâm hụt nặng nề do phải bao cấp tiền lƣơng, mà tiền lƣơng lại không đủ tái sản xuất sức lao động, dẫn đến sản xuất kinh doanh mất động lực nên hiệu quả sút kém. Thứ ba: Tiền lƣơng không còn là mối quan tâm của công nhân viên chức trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Cái họ quan tâm là những lợi ích 11 z đƣợc phân phối ngoài đồng lƣơng.
Nền kinh tế mệnh lệnh ngày càng không đáp ứng đƣợc các nhu cầu thƣờng nhật của đời sống nhân dân nên tệ tham nhũng từ cơ quan, xí nghiệp đến toàn bộ nền kinh tế xã hội có nguy cơ ngày một gia tăng. Ngƣời lao động mặc dù đƣợc coi là chủ nhƣng không gắn bó với cơ sở sản xuất, phổ biến tình trạng “chân trong chân ngoài”, lãng phí ngày công, giờ công. Đây là một hiện thực kéo dài nhiều năm, nó đã đẩy nền kinh tế vào hoàn cảnh khó khăn. Hiện nay nền kinh tế nƣớc ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trƣờng buộc chúng ta phải có những nhận thức mới đúng hơn về tiền lƣơng, phù hợp với cơ chế quản lý, đó là: - Thừa nhận sức lao động là một loại hàng hoá của thị trƣờng yếu tố sản xuất.
Tính chất hàng hoá của sức lao động có thể bao gồm không chỉ lực lƣợng lao động làm việc trong khu vực kinh tế tƣ nhân, lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu Nhà nƣớc, mà cả đối với công chức, viên chức thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nƣớc, quản lý xã hội. Tuy nhiên do những đặc thù riêng thuộc việc sử dụng lao động của từng khu vực kinh tế và quản lý mà các quan hệ thuê mƣớn, mua, bán, hợp đồng lao động cũng khác nhau, các thoả thuận về tiền lƣơng và cơ chế quản lý tiền lƣơng cũng đƣợc thực hiện theo những hình thức khác nhau. - Tiền lƣơng là bộ phận cơ bản chiếm đại bộ phận trong thu nhập của ngƣời lao động, đồng thời là một trong các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. - Tiền lƣơng mang bản chất kinh tế – xã hội.
Bản chất kinh tế đòi hỏi 12 z ngƣời sử dụng lao động phải tính toán vì nó là một yếu tố chi phí đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động mà tiền lƣơng không chỉ đơn thuần mang bản chất kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng, liên quan đến đời sống và trật tự xã hội, do đó nó phải đƣợc Nhà nƣớc can thiệp nhằm đảm bảo ổn định và công bằng. * Các nhân tố ảnh hƣởng đến tiền lƣơng của ngƣời lao động trong nền kinh tế thị trƣờng rất đa dạng, phong phú, có thể chia ra các nhóm nhân tố sau: - Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp gồm: thị trƣờng lao động (cung – cầu sức lao động, hoàn cảnh nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp trên thị trƣờng, …); Sự khác biệt về trả lƣơng theo vùng địa lý; Các quy định, chính sách của Nhà nƣớc; Mức sống của ngƣời lao động,…. - Nhân tố thuộc về tổ chức, doanh nghiệp: Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh; lợi nhuận và khả năng trả lƣơng; quy mô của doanh nghiệp; chính sách tiền lƣơng của doanh nghiệp, văn hoá doanh nghiệp; tầm quan trọng của công việc đối với doanh nghiệp… - Nhân tố thuộc về công việc: Kỹ năng (yêu cầu lao động trí óc, mức độ phức tạp của công viêc, các phẩm chất cá nhân cần thiết, đánh giá, các kỹ năng xã hội, kinh nghiệm…); Trách nhiệm (Kết quả tài chính, ra quyết định, kiểm soát, lãnh đạo, quan hệ khách hàng, …); Sự cố gắng (thể lực, trí lực, áp lực của công việc,…); điều kiện làm việc,… - Ngƣời lao động: Khả năng hiện tại (kiến thức, kỹ năng, phẩm chất lao động), tiềm năng cá nhân trong tƣơng lai, kiến thức, tay nghề tích luỹ, thâm 13 z niên nghề nghiệp, mức độ trung thành với doanh nghiệp, mức độ hoàn thành công việc… 1.
Các yếu tố cấu thành tiền lương 1. Chế độ tiền lương Chế độ tiền lƣơng gồm chế độ tiền lƣơng cấp bậc và chế độ tiền lƣơng chức vụ. * Chế độ tiền lương cấp bậc Chế độ tiền lƣơng cấp bậc là chế độ trả lƣơng cho ngƣời lao động theo số lƣợng và chất lƣợng lao động cũng nhƣ điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật của công việc thông qua thang bảng lƣơng, mức lƣơng. Số lƣợng lao động thể hiện ở mức hao phí thời gian để sản xuất và số lƣợng sản phẩm, còn chất lƣợng lao động thể hiện ở trình độ lành nghề của ngƣời lao động.
Các yếu tố cấu thành chế độ tiền lương cấp bậc: - Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật: Là các quy định về mức độ phức tạp của công việc và trình độ lành nghề của công nhân ở một bậc nào đó phải có sự hiểu biết nhất định về mặt kiến thức lý thuyết và phải làm đƣợc những công việc nhất định trong thực hành.