CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC 1. Cơ sở lý luận về công tác đánh giá thực hiện công việc 1. Các khái niệm có liên quan 1.1 Công việc Có thể hiểu “Công việc là tập hợp tất cả các nhiệm vụ các trách nhiệm hay chức năng mà một người hay một nhóm người lao động phải đảm đương trong một tổ chức” (Lê Thanh Hà, 2009, tr. Trong đó nhiệm vụ chính là thể hiện từng hoạt động lao động riêng biệt với những mục đích cụ thể mà mỗi cá nhân phải thực hiện.
Công việc có thể coi là kết quả của sự phân chia lao động trong tổ chức, với mỗi cá nhân hay một nhóm đảm nhận một công việc cụ thể, phù hợp với trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Công việc là một đơn vị mang tính tổ chức nhỏ nhất trong một công ty. Để doanh nghiệp hoạt động tốt thì buộc các doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác quản lý sản xuất kinh doanh, từ đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thực hiện công việc Theo Lê Thanh Hà (2009), thực hiện công việc là việc mà người lao động sử dụng các yếu tố như kinh nghiệm, hiểu biết, sức khỏe,… kết hợp với các công cụ lao động để tạo ra sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Đây khái niệm cơ bản về thực hiện công việc, nhằm cung cấp những cái nhìn khái quát, cơ bản nhất về nội dung thực hiện công việc. Đánh giá thực hiện công việc ĐGTHCV thường được hiểu là đánh giá chính thức và có hệ thống về tình hình thực hiện công việc trong mối quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với người lao động. (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2010) Theo Lê Quân (2010), ĐGTHCV là quá trình cung cấp các thông tin về quá trình thực hiện một công việc cụ thể của cán bộ công nhân viên trong một chu ỳ 123doc 10 kinh doanh nhất định. Kết quả đánh giá thành tích cho phép nhận dạng mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân và tổ chức.
Như vậy về thực chất, đánh giá năng lực thực hiện công việc và đánh giá mức độ hoàn thành công việc không thể tách rời bởi vì năng lực hoàn thành công việc được thể hiện thông qua khả năng hoàn thành công việc mà họ đảm nhận. Hệ thống đánh giá thực hiện công việc HTĐGTHCV là một hệ thống đánh giá hiệu suất hoạt động của nhân viên dựa trên các tiêu chuẩn đã được đặt ra. Judge và Ferris (1993), Selvarajan và Cloninger (2008) thì HTĐGTHCV là một trong những chức năng quản lý nhân sự quan trọng nhất và cũng là một bộ phận không thể tách rời của của tổ chức. Theo Hartle (1995), HTĐGTHCV nên được kết hợp vào cách kinh doanh được quản lý và cũng cần được kết hợp với các thực tiễn quan trọng khác như chiến lược kinh doanh, quản lý chất lượng tổng thể và chủ yếu là phát triển nhân viên.
Nó có hai mục đích, một là mục đích hành chính (thông tin để kiếm tiền, khuyến khích, sa thải, .) và một mục đích khác là mục đích phát triển (chẩn đoán nhu cầu đào tạo, quy hoạch nghề nghiệp, …). ĐGTHCV là nhu cầu cơ bản để phát triển nhân viên nhằm phát triển tổ chức. Trong việc ủng hộ quan điểm này, Valance (1999) đề xuất HTĐGTHCV là một công cụ để rà soát và chỉ ra những cải tiến về năng suất của nhân viên. Trong khi đó, Cokin (2004) đưa ra ý kiến của mình rằng ĐGTHCV có hiệu quả là bắt buộc đối với các tổ chức, bởi vì nó tập trung vào việc nâng cao năng lực của nhân viên.
Nội dung hệ thống đánh giá thực hiện công việc. Mục tiêu đánh giá Việc xác định mục tiêu của ĐGTHCV rất quan trọng, nó định hướng xem việc ĐGTHCV cho đối tượng nào, nội dung đánh giá ra sao, ai là người đánh giá. Công việc khác nhau thì mục tiêu đánh giá cũng khác nhau, vì vậy cần phải xác định mục tiêu rõ ràng, cụ thể để có phương pháp cũng như nội dung đánh giá phù hợp nhất. Mục tiêu cụ thể của ĐGTHCV:Xác định những công việc cụ thể mà mỗi cá nhân phải thực hiện để đạt được mục tiêu của từng bộ phận.
123doc 11 - Thiết lập những mục tiêu chính hoặc quan trọng mà doanh nghiệp mong đợi cá nhân đó đạt được trong một chu kỳ nhất định. - So sánh mức độ thực hiện công việc của từng cá nhân với mức chuẩn, từ đó có kế hoạch khen thưởng, xử phạt thích đáng. - Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển thông qua kết quả đánh giá. - Xác định những cá nhân có khả năng thăng tiến để lập kế hoạch đề bạc vào vị trí thích hợp.
- Xác đinh những cá nhân yếu kém, nhưng công tác yếu kém để có kế hoạch hoàn thiện. - Đánh giá năng lực của nhân viên từ đó có sự phân bổ nhân sự hợp lý. Chu kì đánh giá Chu kì đánh giá là khoảng thời gian mà công tác đánh giá được lặp lại, thường là tuần, tháng, quý, 6 tháng hay 1 năm. Việc lựa chọn chu kỳ đánh giá tuỳ thuộc vào mục tiêu của hệ thống đánh giá.
Lý thuyết và thực tiễn quản trị cho thấy không nên quy định chu kì dài hơn 1 năm cũng như không nên quy định quá ngắn. Nếu hệ thống quản lý của doanh nghiệp vận hành tốt, doanh nghiệp thường tiến hành đánh giá theo quý hoặc 6 tháng. Thiết kế tiêu chuẩn đánh giá: Tiêu chuẩn đánh giá thường lấy kết quả công việc đạt được ở mức độ trung bình, không nên đặt ra tiêu chuẩn quá cao hoặc quá thấp. Tiêu chuẩn đánh giá có thể dựa theo các nội dụng sau: - Tiêu chuẩn đánh giá phải dựa vào bản chất của công việc chứ không dựa vào người thực hiên công việc.
- Tiêu chuẩn đánh giá nên thuộc phạm vi năng lực của nhân viên, tuy nhiên có thể cao hơn so với mức độ bình thường để phát huy sự cố gắng của nhân viên và cũng không quá khó để thực hiện. - Tiêu chuẩn đánh giá được xác định thông qua bàn bạc, thảo luận và đi đến sự thống nhất của cán bộ quản lý, và công bố cho toàn thể nhân viên. - Tiêu chuẩn đánh giá phải cụ thể, có thể đo lường, so sánh được. 123doc 12 - Tiêu chuẩn đánh giá phải xác định rõ thời gian hoàn thành.
Phương pháp đánh giá Có rất nhiều phương pháp đánh giá khác nhau, lựa chọn phương pháp đánh giá nào phụ thuộc vào mục đích của việc đánh giá, đặc điểm của từng doanh nghiệp và cho từng bộ phận cụ thể. Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm, phải thực hiện theo trình tự nhất định. Do vậy việc xác định và lựa chọn các phương pháp cần đảm bảo thực hiện mục tiêu của cả doanh nghiệp và cá nhân đánh giá, đảm bảo sự giao tiếp thoải mái, bình đằng, thẳng thắn giữa hai bên. Phương pháp thang điểm: là phương pháp đơn giản và phổ biến nhất để ĐGTHCV.
Những điểm quan trọng theo yêu cầu của công viên sẽ được liệt kê và sắp xếp thứ tự từ mức kém nhất đến xuất sắc hoặc theo thang điểm. Mỗi nhân viên sẽ được đánh giá và cho điểm tương xứng với mức độ thực hiện công việc, sau đó tổng hợp lại và đánh giá tổng thể về khả năng thực hiện công việc của nhân viên.1: Ví dụ về phương pháp đánh giá thang điểm Điểm STT Nhân tố Hệ số 5 4 3 2 1 1 Khối lượng công việc hoàn thành 0,3 2 Chất lượng công việc hoàn thành 0,3 3 Tiến độ hoàn thành công việc 0,1 4 Ý thức tự giác, chấp hành tốt nội quy 0,1 5 Thái độ đoàn kết, hợp tác 0,1 6 Ý thức phát triển cá nhân 0,1 7 Tổng điểm 8 Điểm bình quân (/5) 9 Xếp loại công tác (Nguồn: Lê Quân, Trịnh Minh Đức (2011)) Phương pháp so sánh luân phiên: Là phương pháp đơn giản để đánh giá nhân viên, đặc điểm của phương pháp này là sắp xếp nhân viên theo thứ tự từ người 123doc 13 giỏi nhất đến người kém nhất dựa trên một số quan điểm chính như thái độ làm việc, tính hợp tác, sự tự giác,… Tiến hành đánh giá theo phương pháp so sánh luân phiên bao gồm 2 công việc cơ bản: - Liệt kê tất cả tất cả các nhân viên cần đánh giá trong công ty. - Trên biểu mẫu, đối với từng điểm chính, xác định cán bộ được đánh giá là cao nhất, lần lượt đến người kém nhất. Phương pháp so sánh cặp: Phương pháp này giúp cho việc sắp xếp nhân viên theo phương pháp sắp xếp, có hiệu quả hơn.
Đối với mỗi yêu cầu (hay điểm) chính như số lượng và chất lượng công việc,… Mỗi nhân viên sẽ được so sánh với một nhân viên khác trong từng cặp. Ví dụ: Áp dụng phương pháp so sánh trong đánh giá cán bộ quản lý tại công ty A. Các cán bộ quản lý được so sánh từng cặp đôi với nhau. - Tổng điểm 2 người luôn bằng 4.
- Cá nhân nào vượt trội được 4 điểm, cá nhân còn lại được 0 điểm. - Cá nhân nào nhỉnh hơn được 3 điểm, cá nhân còn lại được 1 điểm. - Hai cá nhân ngang bằng nhau thì cùng 2 điểm mỗi người.2: Ví dụ về so sánh giữa các nhân viên được đánh giá theo cặp Chất lượng công việc So sánh Tổng hợp Nhân viên được đánh giá A1 A2 A3 A4 A1 3 4 3 10 A2 1 3 1 5 A3 0 1 0 1 A4 1 1 4 6 (Nguồn: Lê Quân, Trịnh Minh Đức (2011)) Phương pháp nhật kí ghi chép: Theo phương pháp này, người đánh giá sẽ ghi chép lại những hành vi được xem là tích cực và những hành vi được xem là tiêu cực trong quá trình thực hiện công việc. 123doc 14 Phương pháp này sẽ giúp cho công tác phản hổi thông tin cho người lao động vì các hành vi thực hiên công việc đều được ghi chép lại theo đúng như thực tế, điều này giúp hạn chế được sự thiên viên và thành kiến trong công tác đánh giá.
Tuy nhiên, phương pháp này lại tốn nhiều thời gian, nhưng thông tin không đáng tin cậy (phụ thuộc vào trình độ của người ghi chép) dẫn đến kết quả đánh giá không được chính xác. Đánh giá theo phương pháp này tạo nên sức ép tâm lý cho người lao động vì các hành vi kém hiệu quả nếu lặp lại thì sẽ bị ghi chép nhiều lần. Do đó, để công tác ĐGTHCV được hiệu quả thì cần sử dụng kết hợp phương pháp này với các phương pháp khác.