phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Chƣơng 2: Thực trạng công tác đánh giá công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên. Chƣơng 3: Mục tiêu, phƣơng hƣớng và một số giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác đánh giá công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên. 10 Chƣơng 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC VÊ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1.
Công chức cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh 1. Khái niệm Để hiểu khái niệm công chức cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, cần làm rõ một số khái niệm sau: 1. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Theo Đại từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là "cơ quan chuyên trách một ngành cụ thể của nhà nước" [28, tr. Theo Từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là "cơ quan chuyên trách một ngành công tác của nhà nước" [65, tr.
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp thì Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là: "Cơ quan có nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp và theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp trên.Tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân do Chính phủ quy định Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện. 11 Với quan niệm về cơ quan chuyên môn nhƣ trên, các cơ quan chuyên môn có những đặc điểm nhƣ sau: - Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là loại cơ quan có thẩm quyền chuyên môn thuộc cơ quan hành chính Nhà nƣớc ở địa phƣơng, có chức năng tham mƣu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân quản lý về ngành, lĩnh vực công tác trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Vì vậy, các cơ quan chuyên môn không phải là cơ quan hiến định, cơ quan này đƣợc thành lập trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật, chủ yếu là từ các Nghị định của Chính phủ.
- Cơ quan chuyên môn là cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng chỉ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nƣớc đối với ngành, lĩnh vực ở phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cùng cấp; thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc về chuyên môn theo ngành, lĩnh vực nhƣng chúng không phải là cơ quan hành chính Nhà nƣớc và thẩm quyền bị giới hạn trong thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện. Từ những trình bày ở trên có thể nhận định r ng: cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là cơ quan có nhiệm vụ thực hiện quản lý về chuyên môn đối với một ngành, một lĩnh vực hoặc một số ngành, một số lĩnh vực cụ thể trong đời sống xã hội ở địa phƣơng. Cơ quan chuyên môn đƣợc tổ chức và hoạt động ở cấp chính quyền địa phƣơng (cấp huyện và cấp tỉnh) để tham mƣu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý ngành lĩnh vực ở địa phƣơng trong phạm vi quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cùng cấp đƣợc thống nhất, hiệu quả từ trung ƣơng đến địa phƣơng theo nguyên tắc về quản lý theo ngành, quản lý theo lĩnh vực kết hợp với quản lý theo địa phƣơng hoặc đa ngành, đa lĩnh vực, nh m nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền địa phƣơng, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nƣớc và giải quyết những công việc 12 liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức ở địa phƣơng theo quy định của pháp luật. Công chức Mặc dù chế độ công vụ đã tồn tại và phát triển đã trên 3 thế kỷ tính từ thời điểm xuất hiện thuật ngữ công chức vào năm 1859 ở Anh nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới.
Sự khác nhau trong quan niệm về công chức thể hiện trên các phƣơng diện nhƣ: Phạm vi công chức, đặc điểm công chức và chế độ công vụ. Một số nƣớc xác định phạm vi công chức bao gồm cả những ngƣời thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công hoặc cả ngành lập pháp, tƣ pháp (Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha. Đối với Việt Nam, theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức đƣợc định nghĩa: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập., trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [39]. Theo định nghĩa này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh.
Những ngƣời đủ các tiêu chí chung của công chức mà đƣợc tuyển vào làm việc trong các cơ quan, 13 đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì đƣợc xác định là công chức. Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) đƣợc cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trƣớc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc giao. Việc quy định công chức trong phạm vi nhƣ vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam, rất khác so với một số nƣớc trên thế giới nhƣng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam.
Tuy nhiên, luận văn này không nghiên cứu đối tƣợng công chức trong tổ chức chính trị, chính trị- xã hội. Với các quan niệm trên cho thấy vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về công chức. Sự khác nhau này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ: lịch s sự tồn tại và phát triển của nền hành chính quốc gia; điều kiện kinh tế - xã hội mà trên đó pháp luật đƣợc hình thành; quan điểm của các nhà lập pháp trong việc đánh giá s dụng các thành tựu của khoa học pháp lý. Tuy nhiên, nhìn chung công chức ở các nƣớc đều có một số dấu hiệu nhận biết chung, đó là: công dân của nƣớc đó, đƣợc tuyển dụng bởi Nhà nƣớc, đƣợc trả lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc, làm việc trong các cơ quan của Nhà nƣớc, đƣợc điều chỉnh bởi luật riêng về công chức.
Từ những phân tích trên đây có thể hiểu công chức cơ quan chuyên môn tỉnh là một bộ phận của công chức hành chính Nhà nƣớc, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Thực hiện những nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định để giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ của mình. Vị trí, vai trò của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng là cấp thứ 2 trong hệ thống chính quyền 4 cấp hiện nay.
Cấp tỉnh đƣợc xác định là cấp quan trọng, là cầu nối đầu tiên để chuyền tải những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc đến với ngƣời dân. Là cấp có vai trò quyết định trong việc xây dựng và thực thi các chính sách tại địa phƣơng. Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan hành chính có thẩm quyền chung ở địa phƣơng, thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nƣớc theo lãnh thổ địa giới hành chính tỉnh đối với mọi ngành, lĩnh vực thuộc địa phƣơng mình, đảm bảo việc thi hành các quy định của các cơ quan Nhà nƣớc cấp trên và của Hội đồng nhân dân tỉnh, giám sát việc thi hành pháp luật của các đơn vị cơ sở của các cơ quan hành chính ở trung ƣơng đóng tại địa phƣơng trong phạm vi những vấn đề thuộc quyền quản lý lãnh thổ. Để thực hiện các nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân tỉnh, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc trên các lĩnh vực và nh m bảo đảm hoạt động thống nhất quản lý ngành.
Công chức các cơ quan chuyên môn chính là ngƣời trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân tỉnh, quyết định hiệu quả, chất lƣợng hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh. Do vậy, công chức các cơ quan chuyên môn có vai trò quan trọng trong bộ máy chính quyền của địa phƣơng. Đặc điểm của công chức cơ quan chuyên môn Công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh là một bộ phận của công chức hành chính, do đó mang những đặc điểm chung của đội ngũ công chức hành chính nhƣ sau: - Là chủ thể của nền công vụ.