Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn v lượng đội ngũ CBCCVC Chương 2: Thực trang chất lượng đội ngũ cần bộ, công chức tại UBND huyện Đoan Hùng, inh Phú Tho giai đoạn 2014-2018 “Chương 3: Một số giải phấp nâng cao chất lượng đội ngũ cắn bí ‘ang chức tại UBND huyện Đoan Hing, tinh Phú Thọ giai đoạn từ 2019. 33 CHƯƠNG! CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CHAT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BO, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC CAP HUYỆN 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng và quản lý chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức LLL. Chất lượng đội ngĩ cán bộ, công chức, viên chức cắp huyện 1. Khải niệm edn bộ, công chức, viên chức Khái niệm vé cán bội 6 nước ta, phù hop với thể chế chính tri và tổ chức bộ máy nhà mut , cùng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa về kinh tế, những thành tựu của sự phát triển kính.
xã hội, sự tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tắc vỀ nhiều mặt với các nước, tgp thu có chọn lọc tỉnh hoa văn hỏa nhân loại; cùng với công cuộc cải cách hành chính hiện nay dang dit ra nhu cầu chuyên biệt héa tong sự điều chỉnh pháp luật ngày cing rõ nứt đòi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên «qian, Luật Cần bộ, công chúc được Quốc hội ban hành thing 11 năm 2008, cổ hiệu lực từ ngày 01/0/2010 (Luật Cin bộ, công chức 2008) đã quy định cụ thể khái niệm "sắn bộ, công chức” [1] “Cần bộ là công din Việt Nam, được bau cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức anh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính tì - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trùng ương (sau đây gọi chung là cấp tinh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tinh (sau đây gọi chung là sắp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, (Cam bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung li cắp xa) i công din Việt Nam, được "bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm ky trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân cdân, Bí thu, Pho Bi thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính tị - xã hội “Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, khái niệm cản bộ đã được quy định rỡ rằng, cụ thể, xác định rõ nội hàm, dé là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỷ trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam từ Trung ương đến cap tinh, cấp huyện, cắp xã Tùy góc độ và mục tiêu xem xét có thé phân bgt Abi ngũ cần bộ thành cúc nhóm Xét về loại hình có thé phân thành: Cán bộ Đáng, đoàn th, cán bộ Nhà nước, cán bộ kinh t và quản lý kinh tế; cân bộ khoa hoe, kỹ thuật Theo tính chất và chức năng nhiệm vụ có thé phân thành: nhóm chính khách, nhớm lãnh đạo quản lý, Theo cắp quản lý phân ra: Cần bộ cắp trung ương: cần bộ cp tính; cần bộ cắp huyện: cán bộ cấp xã ái niệm công chức ng chức là một khái niệm chung được sử đụng phổ biển nhiều quốc gia trên thể giới để chỉ những cự ự din được tuyển dung vào lim việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước. Do tính chất đặc thủ của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nước cũng, không hoàn toàn đồng nhất. Có nước chỉ giới hạn công chúc trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước. Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan cổ tính chit công công, 6 Pháp, công chức là những người được tuyể dụng, bộ nhiệ vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyển và các tổ chức dich vụ công cộng do nh nước tổ chức bao gồm cả trung ương, địa phương.
6 Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là những người công tác trong cơ quan hành chính các cấp, trừ nhân viên phục vụ, bao gồm công chức lãnh đạo và công chức nghiệp vụ. Công chức lãnh đạo li những người thừa hành quyển lực nhà nước, được bổ nhiệm theo các trinh tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến Pháp, Điễu lệ công chức và Luật tổ chức của chỉnh quyển các cắp. Công chức nghiệp vụ là những người thi hành ch độ thường nhiệm, do các cơ quan hành chính các cắp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quần tiệc chấp hành các chính sich va pháp luật ‘© Nhật Ban, công chúc được phân thinh bai loại chính, gồm công chức nhà nước và công chức địa phương. Công chức nhà nước gdm những người được nhận chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp va đơn vi sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước.
Công chức địa phương là những người làm việc và lĩnh lương từ tải chính địa phương. Việt Nam, khái niệm công chức lin đầu tiên được nê ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hia ban hành quy chế công chức. Theo quy chế này, công chức được hiểu là những công dân Việt Nam được chính quyển tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chỉnh Phủ, ở trong hay ngoài nước, rờ những trường hop riêng biệt do Chính Phủ quy định Nhu vậy, công chức chủ y là những người làm việc trong bộ máy nhà nước ở trung wơng. Dội ngũ cán bộ đoàn thể, những người làm việc trong bộ mấy chính quyền dia phương không phải tắt cả đều là công chức, thuộc phạm vi điều chỉnh của sắc lệnh.
“Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh nên quy ché công chức theo sắc lnh này Không được thực hiện diy đủ và trong thực tế thời gian này người ta thường dùng khái niệm cán bộ để chỉ những người lâm việc trong biên chế nhà nước nói chung. Sau suốt một th gian dai, khái niệm công chúc ít được sử dụng, thay vào dé là khái niệm cần bộ, công nhân viên chức Nha nu : không phân biệt công chức, viên chức, với công nhân, Thực hiện công cuộc dBi mới, trước yêu cầu khách quan của tin mình cải cách nền hành chính Nhà nước và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, thuật ngữ công chức lại được sử đụng ở lạ. Tại Nghị định số 169/HDBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trường: tip 46 là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phi: Nghĩ định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của CChinh phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cần bộ, công chức trong các cơ quan Nha nước; khái niệm công chức được đề cập một cách rõ ràng, cụ thé; xong vẫn chưa phân biệt công chức hành chính với công chức sự nghiệp. ‘Qua nhiều lần sửa đổi bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế- xã hội và hội nhập quốc tế; Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định rõ: Công chức là công, dan Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chúc vụ, chức danh trong cơ quan của Ding Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính tr - xã hội ở trung wong, cắp tinh, cắp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là si quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân ma không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Dang Cộng sản Việt Nam, Nha nước, tổ chức chính trị - xã (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thi lương được bảo đảm tir quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật; công chức cắp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc.
Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sich nhà nước Công chức cấp huyện là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh. chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp huyện, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, Theo Luật cần bộ, công chức năm 2008 [1] có 4 tiêu chỉ dé xác định công chức: Trước hốt phải là công dân Việt Nam. Tiếp đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc iu cử vào làm việc trong biên chế chính thức của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị xã hội. Sau đó phải là những người được xếp vào một ngạch trong hệ thống ngạch bậc của công chức do nhà nước quy định.
Cuối cùng là những người được hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp. Can cứ vào những tiêu chí đó, có 6 loại sau đây được gọi là công chức; Một là những người do bằu cử để dim nhiệm chức vụ theo nhiệm ki trong các cơ quan tổ chức chính tr- xã hội nhà nước, Hải là những người làm việc rong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp được tuyển dạng bổ nhiệm hoặc phân công làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Ba là những người làm việc trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp được tuyển dụng bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Bổn là các thắm phán, kiểm soát viên được bổ nhiệm theo Luật tổ chức tòa án nhân.
dan, Pháp lệnh về thấm phán và hội thm tòa án nhân dân, Luật Tổ chúc, viện kiểm soát nhân dn và Pháp lệnh về kiểm soát viên viện kiểm soát nhân dân. Năm là những người am việc trong các cơ quan thuộc quân đội, công an nhân dân mà. không phải là sỹ quan quân nhân chuyện nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ được tuyển dụng, "bổ nhiệm hoặc giao làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Sáu là (hành viên Hội đồng quản tri, Tổng giảm đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám a ván trưởng các doanh ng] Nha nước, Nhu vậy khái niệm công chức của nước ta bao gồm một phạm vi rộng hơn so với khái công chức của các quốc gia khác trên thể giới.