Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU KHI THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ. Một số khái niệm liên quan 1. Hải quan Theo từ điển nghiệp vụ do Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) thì Hải quan là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thi hành Luật Hải quan, chịu trách nhiệm thu thuế và lệ phí hàng hóa XNK, đồng thời cũng chịu trách nhiệm thi hành các luật lệ khác liên quan tới việc xuất nhập khẩu hàng hóa. Theo Luật Hải quan, HQ Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống BL, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp QLNN về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu [29].
Như vậy, có thể khái quát: Hải quan là cơ quan QLNN đối với hoạt động XNK, xuất nhập cảnh, quá cảnh; đấu tranh chống BL hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và thực hiện thống kê nhà nước đối với hàng hóa XNK. Hàng hóa xuất nhập khẩu Theo kinh tế chính trị, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được. Hàng hóa có thể tồn tại ở dạng hữu hình hay ở dạng vô hình (sức lao động). Ngày nay, với sự thay đổi của đời sống kinh tế, cách hiểu về hàng hóa cũng khác đi khi tiền, cổ phiếu, quyền sở hữu nói chung, quyền sở hữu trí tuệ,.cũng được xem là hàng hóa.
10 Theo Luật Thương mại 2005 thì hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản [28]. Theo Luật Hải quan, hàng hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa XK, NK Việt Nam được XK, NK, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan. Như vậy, hàng hóa XNK là động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, được đưa ra hoặc vào lãnh thổ Việt Nam, hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam thông qua hoạt động thương mại sau khi hoàn thành các thủ tục theo quy định. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ có chính sách quản lý hàng hóa XNK như quy định danh mục hàng hóa cấm XK, cấm NK; danh mục hàng hóa XK, NK theo giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;.
Thủ tục Hải quan Một cách khái quát, TTHQ là những trình tự các bước thực hiện, thủ tục cần thiết theo quy định để hàng hóa được NK vào một quốc gia hoặc XK ra khỏi biên giới một quốc gia. Mục đích quan trọng nhất của TTHQ là để Nhà nước tiến hành thu thuế đối với hàng hóa XNK, nhằm đảm bảo cân đối và ổn định thị trường. Đồng thời, đây là cơ sở để quản lý hàng hóa, đảm bảo hàng hóa ra, vào lãnh thổ Việt Nam tuân theo chính sách quản lý hàng hóa của Nhà nước như hàng hóa cấm XNK, hàng hóa XNK có điều kiện,… Theo Luật Hải quan thì TTHQ là các công việc mà người khai hải quan (NKHQ) và công chức hải quan (CCHQ) phải thực hiện theo quy định đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. NKHQ bao gồm: chủ hàng hóa XNK; đại lý làm TTHQ, người khác được chủ hàng hóa ủy quyền thực hiện TTHQ.
NKHQ phải khai và nộp tờ khai hải quan; nộp hoặc xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan theo quy định; Đưa hàng hóa, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định để kiểm tra thực tế hàng hóa, 11 phương tiện vận tải; Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan. CCHQ phải tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan; Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa; Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan; Quyết định việc thông quan hàng hóa, giải phóng hàng hóa, xác nhận phương tiện vận tải đã hoàn thành TTHQ. Thủ tục hải quan điện tử Trên thực tế, không có khái niệm, định nghĩa thống nhất về TTHQĐT. HQ các nước trên thế giới, tùy theo quan điểm, đặc điểm, mức độ phát triển của quốc gia để tiến hành triển khai thực hiện TTHQĐT theo mô hình riêng của mình.
Điều này được thể hiện thông qua cách sử dụng từ ngữ về TTHQĐT và phụ thuộc vào phạm vi, chức năng, mức độ ứng dụng như: HQ Thái Lan sử dụng E- Customs (electronic customs - là hệ thống hoàn chỉnh nhằm tạo thuận lợi cho quá trình nhập khẩu hàng hóa vào Thái Lan); HQ Nhật Bản dùng NACCS (Hệ thống thông quan). Tổ chức hải quan thế giới không có khái niệm về TTHQĐT. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 08/2015/NĐ-CP thì: "Thủ tục hải quan điện tử” là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan" [16, tr. Như vậy, theo nghĩa hẹp, TTHQĐT là việc ứng dụng công nghệ thông tin để thông quan hàng hóa tự động.
Theo nghĩa rộng, TTHQĐT là TTHQ theo đó CQHQ áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, ứng dụng CNTT và trang thiết bị hiện đại để cung cấp các dịch vụ về thông quan hàng hóa XNK cho NKHQ. Rủi ro và quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam đã tham gia Công ước KYOTO về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục HQ (sửa đổi 1999), trong đó tại Chương 6 về kiểm tra hải quan có nêu rõ 03 12 chuẩn mực 6.5 hướng dẫn các cơ quan Hải quan áp dụng các nguyên tắc QLRR đảm bảo việc tuân thủ luật lệ và các quy định mà HQ có trách nhiệm thực hiện, đồng thời đánh giá tuân thủ DN ở các mức độ khác nhau, định hướng tuân thủ tự nguyện nhằm khuyến khích các DN nhận thức được lợi ích khi tuân thủ pháp luật để được hưởng những ưu đãi về thủ tục và các chế độ chính sách khác có liên quan [37]. Theo tài liệu Hướng dẫn Phụ lục tổng quát Công ước KYOTO định nghĩa rủi ro là “nguy cơ tiềm ẩn của việc không tuân thủ pháp luật hải quan”. Theo Luật Hải quan thì: "Rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải".
Và, "Quản lý rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả" [29, tr. Để thực hiện tốt công tác QLRR yêu cầu phải xây dựng các tiêu chí và các bộ chỉ số về dấu hiệu rủi ro được áp dụng trong từng khâu nghiệp vụ quản lý và đánh giá phản hồi kết quả hoạt động qua thực tế. Các chỉ số ấy phải là các chỉ tiêu thông tin mang giá trị của tiêu chí QLRR giúp cho quá trình nhận biết, phân loại mức độ tuân thủ, mức độ rủi ro của DN, để từ đó lựa chọn đối tượng kiểm tra, giám sát hải quan, KTSTQ, thanh tra trong quản lý hoạt động XNK hàng hóa. QLRR là bộ phận không thể tách rời, bao trùm tất cả các quy trình tổ chức nghiệp vụ HQ, đưa ra các cảnh báo để từ đó CQHQ có các biện pháp xử lý các rủi ro phát sinh một cách phù hợp và hiệu quả.
Bởi vậy tại mỗi khâu nghiệp vụ cần xây dựng tiêu chí QLRR khác nhau tuỳ vào tính chất, mức độ rủi ro của hoạt động XNK. Luật Hải quan đã quy định các nội dung mang tính nguyên tắc về QLRR trong hoạt động nghiệp vụ hải quan. Theo đó, CQHQ sẽ áp dụng QLRR để quyết định việc kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa; Hỗ trợ hoạt động phòng, chống BL và vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. QLRR trong hoạt động nghiệp vụ HQ bao gồm việc thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí quản lý và tổ 13 chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của NKHQ; phân loại mức độ rủi ro; tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.
CQHQ quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng QLRR trong hoạt động nghiệp vụ hải quan. Kiểm tra sau thông quan - Theo Tổ chức HQ thế giới: KTSTQ là quy trình cho phép CQHQ kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thương mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác cho CQHQ mà hiện tại đang được các đối tượng kiểm tra (cá nhân hoặc DN) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ. - Theo Công ước KYOTO đơn giản hóa và hài hòa TTHQ (sửa đổi 1999): Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là biện pháp được CQHQ tiến hành nhằm thõa mãn mục đích của họ trong việc xác định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hóa thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thương mại của các bên liên quan (Phụ lục tổng quát, Chương 2, định nghĩa E3/F4). - Theo HQ ASEAN: KTSTQ là một biện pháp kiểm soát hải quan có hệ thống mà CQHQ thấy thỏa đáng về độ chính xác và trung thực của việc khai báo hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại của các cá nhân/các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế (Sổ tay hướng dẫn KTSTQ – Tổ chức Hải quan ASEAN).