Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khinh doanh xuất nhập khẩu. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu Hải Phòng. Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu Hải Phòng. Mặc dù trong thời gian thực tập tại công ty em đã tích cực học hỏi để dần hoàn thiện kiến thức mình, nhưng do thời gian thực tập có hạn và bước đầu tiếp cận với tình hình thực tế chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Chƣơng I: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.4 Khái quát chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cạnh tranh 1.1Khái niệm Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan tâm. Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao…thường xuyên được nhắc đến trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các trên các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có nhiều khái niệm khác nhau về “ cạnh tranh”. -Theo Từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là “sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.
-Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất hàng hóa, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (khi người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau (để mua được hàng hóa rẻ hơn); giữa người sản xuất để có được những điều kiện tốt hơn terong sản xuất và tiêu thụ. Còn theo nhà kinh tế học Micheal Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà Doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích.2 Vai trò Đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, gói phần vào sự phát triển kinh tế. Trong xã hội mỗi con người, xét về mặt tổng thể vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích cho mọi người và cho cộng đồng xã hội.
Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng cùng có lợi cho mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh còn đào tạo cho xã hội các nhà làm kinh tế tinh thần chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, phát huy hết khả năng, năng lực chuyên môn,.tạo ra một đội ngũ cán bộ lực lượng lao động tốt cho xã hội. Đối với Doanh nghiệp: Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến kĩ thuật, áp dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất, hoàn thiện công tác quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế.
Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển. Cạnh tranh thực chất là một cuộc chạy đua không có đích của các Doanh nghiệp là quá trình các Doanh nghiệp đưa ra các biện pháp kinh tế tích cực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thương trường và tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo ra ưu thế về sản phẩm, giá bán và tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho người người tiêu dùng. Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyết định tối cao trong hành vi tiêu dùng.
Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn , đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn. để đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng, Thị trường càng mạnh, người tiêu dùng càng được quan tâm và đáp ứng nhu cầu tốt hơn. * Ngoài mặt tích cực thì cạnh tranh cũng mang lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật.
Vì vậy cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.3 Đặc điểm Cạnh tranh kinh tế là một quy luật của sản xuất hàng hóa. Vì trong sản xuất hàng hóa, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động trong xã hội tất yếu dẫn đến những sự cạnh tranh để dành được những điều kiện thuận lợi hơn như: gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kĩ thuật phát triển. nhằm giảm mức hao phí lao động để thu được nhiều lãi. Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiễm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hóa để đạt được lợi nhuận cao nhất.2 Khái niệm và đặc điểm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Như vây, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đấy là các yếu tố bên trong của mỗi doanh nghiệp, không chỉ tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản lý doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Đối với một doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa thì không phải chỉ cạnh tranh ở thị trường trong nước mà còn phải cạnh tranh ở thị trường quốc tế. Thị trường quốc tế không chỉ có rất nhiều khách hàng tiềm năng mà còn có rất nhiều nhà cung ứng vì vậy tính cạnh tranh là rất lớn cho nên doanh nghiệp xuất khẩu khi muốn xuất khẩu được hàng hóa nhất thiết phải quan tâm đến vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh đối với các công ty xuất nhập khẩu là vấn đề sống còn. Tuy nhiên để năng lực cạnh tranh thì đó không phải là một việc dễ dàng với công ty vì nhưng khách hàng tiềm năng ở mỗi nước khác nhau sẽ có quan điểm thị hiếu, hành vi tiêu dùng khác nhau vì vậy muốn nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp cần phải nghiêm cứu sự khác nhau về quan điểm về hành vi tiêu dùng của từng thị trường để từ đó có các chính sách về sản phẩm và ở thị trường quốc tế sẽ có rất nhiều khách hàng tiềm năng xúc tiến hỗn hợp sao cho phù hợp với từng thị trường.
Ví dụ như đối vơi thị trường Nhật Bản: Đây là thị trường có tiểm năng tiêu thụ lớn các mặt hàng nông sản và thủy sản nhưng lại rất khó tính đặc biệt là các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng và mẫu mã. Khi mua hàng người Nhật thường để ý đến độ tươi, hình dáng, màu sắc, độ sáng, giá cả. Trong những yếu tố đó độ tươi đóng vai trò cốt yếu, dù giá đắt hay rẻ nếu hàng hoá không tươi người ta sẽ không mua. Vì vậy muốn tiếp cận được với thị trường này thì công ty cần mở rộng hoạt động tiếp thị và xúc tiến thương mại để chứng minh cho người tiêu dùng thấy rằng những sản phẩm nhập khẩu đang lưu thông ở Nhật đều đã qua kiểm duyệt theo luật an toàn thực vật và luật vệ sinh thực phẩm của Nhật Bản.
Còn đối với thị trường Trung Quốc thì lại khác: Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu nhiều rau quả của ta, nhưng lại tương đối dễ tính có thể chấp nhận những chủng loại những lô hàng mà ta khó có thể tiêu thụ ở nơi khác. Đây là một thị trường tương đối dễ xâm nhập, yêu cầu về quy cách, chất lượng. đối với hàng hoá không cao và đối tượng tiêu dùng lại rất đa dạng.