CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1.TỔNG QUAN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Sự ra đời của thuế xuất nhập khẩu Cùng với sự ra đời và phát triển của nhà nước thì thuế cũng ra đời và tồn tại và cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự hoàn thiện và gia tăng quyền lực của bộ máy Nhà nước. Một mặt đã làm gia tăng các khoản chi tiêu của Nhà nước mặt khác cho phép Nhà nước ngày càng can thiệp sâu hơn vào mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội. Đã làm cho thuế có những biến đổi sâu sắc, các loại thuế khác nhau lần lượt ra đời trong đó có thuế xuất nhập khẩu.
Khi nền sản xuất xã hội phát triển làm nảy sinh nhu cầu trao đổi buôn bán hàng hóa giữa các quốc gia có chủ quan, đề quản lý, điều tiết đối với hoạt động trao đổi, buôn bán này nhà nước đã sự dụng quyền lực của mình buộc các tổ chức, cá nhân phải nộp một phần thu nhập có được thông qua hoạt động trao đổi buôn bán hàng hóa với nước ngoài cho nhà nước. Những khoản đóng góp đó được gọi là thuế XNK. Thuế xuất nhập khẩu ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại, nó tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. “ có tài liệu cho rằng thuế quan ở Trung Quốc ra đời vào thời xuân thu khoảng 77 năm trước công nguyên “ vào thế kỷ 17 – 18 thuế XNK thịnh hành rộng rãi ở các nước phát triển tư bản sớm như Anh, Pháp và sau đó được sử dụng ở hầu hết các nước có quan hệ trao đổi buôn bán hàng hóa, dịch vụ với các nước khác trên thế giới.
Khi mới ra đời thuế XNK nhằm mục tiêu chủ yếu là tạo nguồn thu cho ngân sách. Vì vậy, các quốc gia đều đánh thuế hầu hết vào các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu. Cùng với sự gia tăng hoạt động buôn bán ngoại thương và cân bằng cán cân thanh toán quốc tế cũng như vấn đề ảnh hưởng của hoạt động buôn bán ngoại thương đến sự phát triển của nền sản xuất nội địa… đều được các quốc gia đặt biệt chú trọng. Trong bối cảnh đó thuế XNK không những chỉ có vai trò tạo nguồn thu ngân sách mà còn được các quốc gia sử dụng như một công cụ hữu hiệu để bảo vệ nền sản xuất nội địa và thực hiện đường lối phát triển kinh tế đối ngoài.
Các quốc gia đều tìm cách khuyến khích hoạt động sản xuất để chiếm lĩnh thị trường quốc tế và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động xuất khẩu hàng 123doc 5 hóa. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều có thuế suất thấp hoặc bằng 0%, số thu về thuế xuất khẩu chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số thu từ thuế xuất nhập khẩu. Vì vậy, vai trò tạo nguồn thu ngân sách nhà nước của thuế xuất khẩu ngày càng mờ nhạt. Do vậy, khi nói đến quản lý thuế XNK luận văn hàm ý đề cập chủ yếu đến thuế XNK.
Ngày nay, các chính sách về thương mại, thuế và thuế quan thường được xếp cùng nhau, do chúng có ảnh hưởng chung đối với các chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp và chính sách đầu tư. Các khối thương mại là nhóm các quốc gia liên minh thỏa thuận giảm thiểu hay loại trừ thuế quan đối với thương mại trong khối, cũng như khả năng áp đặt thuế quan có hiệu quả lên hàng nhập khẩu và xuất khẩu. Liên minh hải quan thường có các biểu thuế quan ngoại chung, và theo quy định đã thỏa thuận thì các quốc gia thành viên chia sẽ các khoản thu nhập từ thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào trong khối. Buôn lậu lĩnh vực thương mại quốc tế là hành vi mà một số tổ chức, cá nhân thực hiện trái luật để trốn thuế xuất nhập khẩu.
Khái niệm, đặc điểm của thuế xuất khẩu và nhập khẩu y Khái niệm về thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới của một nước, kể cả hàng hóa đưa vào khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa vào tiêu thụ trong nước. Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một khoản nộp đã có từ lâu đời, nó được hình thành từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ đến thời kỳ phong kiến, đặc biệt nó phát triển ở nước Anh, Pháp vào thế kỳ XVII. Tuy nhiên, ở mỗi nước và mỗi thời kỳ khác nhau sẽ có cách nhìn nhận khác nhau về vị trí và vai trò của thuế xuất khẩu và nhập khẩu. Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu để nhà nước kiểm soát hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoài trong từng thời kỳ.
Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa những thuế XNK đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của minh đối với nền kinh tế quốc gia, 123doc 6 đặc biệt là vai trò kiểm soát hàng hóa XNK bên ngoài bảo hộ sản xuất trong nước. Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến thuế XNK theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia song về cơ bản, thuế XNK vẫn là giải pháp quan lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước. y Đặc điểm của thế xuất khẩu và thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu nhằm động viên một phần giá trị mới nằm trong giá cả của hàng hóa trao đổi qua biên giới mỗi nước. Người tiêu dùng là người chịu thuế.
Người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. 3 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thu vào các nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Trên thế giới, bất kỳ quốc gia nào cũng phải xây dựng hệ thống thuế đồng thời thiết lập các cơ quan chức năng quản lý thu thuế. Ở mỗi quốc gia công tác tổ chức quản lý thu thuế xuất nhập khẩu được giao cho tổng cục hải quan.
Thuế xuất nhập khẩu là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng quản lý việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa giữa khu vực tự do, bảo vệ và phát triển kinh tế của nước mình, xúc tiến việc giao lưu các loại hàng hóa là nhu cầu cần thiết cho nhân dân. Phương châm đấu tranh kinh tế với các nước khác là đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thu nhập khẩu các hàng hóa cần thiết cho kháng chiến, sản xuất và đời sống của nhân dân. Do đó, nhà nước có thể miễn thuế cho mặt hàng này, tăng thuế cho mặt hàng kia… mức thuế của mỗi mặt hàng là khác nhau. 3 Đặc điểm của thuế XNK phản ánh bản chất của thuế XNK trên hai phương diện.
y Về mặt kinh tế: Thuế xuất nhập khẩu là một phần của cải của xã hội được tập trung vào ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước, cơ sở kinh tế, hay nền tảng của thuế XNK là một bộ phận thu nhập được tạo ra từ hoạt động XNK hàng hóa của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Do đó, việc 123doc 7 động viên thuế XNK phải có giới hạn của nó, giới hạn của nó không có thể vượt qua một mức nhất định trong tổng số thu nhập được tạo ra mức thuế xuất nhập khẩu hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho NSNN và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển. Ngược lại, nếu thuế xuất quy định quá cao so với thu nhập được tạo ra thì sẽ không khuyến khích kinh doanh chân chính. Do đó, nhà nước sẽ bị thất thu.
Thực tế cho thấy, nếu quy định thuế suất quá cao thì đối tượng nộp thuế sẽ tìm cách để trốn lậu thuế, khi đó thuế không mang lại hiệu quả như mong muốn. Tuy nhiên, theo tình hình thực tế để quy định mức thuế suất từ 0% lên đến một giới hạn nào đó sẽ đưa đến kết quả là số thuế thu được sẽ tăng theo tỷ lệ thuận với tăng thuế suất, nếu thuế suất tăng vượt quá giới hạn cho phép thì kết quả sẽ ngược lại. Trong trường hợp thuế suất đã quy định quá cao so với thu nhập được tạo ra, thì giải pháp duy nhất là phải hạ thấp thuế suất xuống và đi đối với nó là tìm cách mở rộng diện thu thuế để bao quát hết nguồn thu, vừa đảm bảo công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước. y Về mặt xã hội: Thuế xuất nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước và các pháp nhân, thuế tham gia hoạt động XNK hàng hóa.
Thuế xuất nhập khẩu là một công cụ được nhà nước sử dụng thực hiện chức năng quản lý của mình đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại, điều chỉnh các mối quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập của xã hội giữa các tổ chức, cá nhân và nhà nước. Do đó, thuế xuất nhập khẩu mang tính xã hội cao. Nghiên cứu bản chất xã hội của thuế XNK giúp chúng ta quán thiệt đầy đủ và sâu sắc yêu cầu trong việc hoạch định chính sách thuế XNK phải bảo đảm rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, mang tính phổ biến, phù hợp với trình độ của cả người thu thuế và người nộp thuế. Việc tổ chức quản lý thu thuế cũng phải đảm bảo tính công khai, dân chủ mới đem lại hiệu quả cao, nếu không thì dù chính sách thuế có hợp lý đến đâu cũng chỉ tồn tại trên giấy tờ.
Thứ nhất: việc động viên một phần thu nhập vào NSNN thông qua thuế XNK cần phải được tính toán khoa học, không được ấn định tùy tiện, mực hoạt động phải có giới hạn trên cơ sở thu nhập được tạo ra từ hoạt động XNK hàng hóa. 123doc 8 Thứ hai: việc xây dựng thuế suất phải đảm bảo quyết hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các pháp nhân và cá nhân, một mặt vừa đảm bảo huy động hợp lý nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế XNK, mặt khác phải tính đến lợi ích của tập thể cá nhân.