Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thị trường lao động và vấn đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN Chương 4: Cơ hội và thách thức của lao động Việt Nam trong bối cảnh AEC Chương 5: Kết luận và một số đề xuất 3 z Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự do di chuyển lao động trong ASEAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về chung Cộng đồng kinh tế ASEAN và Việt Nam (VN) Cộng đồng kinh tế ASEAN là một chủ đề rất được các nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm bởi tính cấp thiết cũng như vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển và hội nhập của các quốc gia thành viên nói riêng và của cả khu vực nói chung. Do có rất nhiều các công trình nghiên cứu về AEC nên luận văn xem xét các nghiên cứu này dưới các mặt như sau: Các nghiên cứu về tiến trình hình thành AEC Cuốn sách về “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế” (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2015) do Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Anh Thu đồng chủ biên đã trình bày một cách chi tiết thực tiễn hội nhập của một số khu vực điển hình trên thế giới như Châu Âu, Châu Phi, NAFTA, MERCOSUR, từ đó chỉ ra những khác biệt của tiến trình hình thành AEC thông qua phân tích, đánh giá việc thực hiện các trụ cột của AEC cũng như các công việc cần được ưu tiên thực hiện.
Cuốn sách cũng trình bày bối cảnh kinh tế thế giới nhằm chỉ ra những thách thức cũng như cơ hội mà AEC sẽ phải đối mặt.Vì vậy, đây là một cuốn sách nghiên cứu khá toàn diện về tiến trình hội nhập của AEC, từ bối cảnh quốc tế đến nội dụng thực hiện cũng như các kinh nghiệm thực tiễn đều được các tác giả trình bày và phân tích một cách chi tiết. Bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Sơn (2007) “Cộng đồng kinh tế ASEAN: Nội dung, các biện pháp thực hiện và những vấn đề đặt ra” đã nhận định rằng AEC là một mô hình liên kết kinh tế khu vực, dựa trên và nâng cao các cơ chế liên kết hiện có, có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và vốn được lưu chuyển tự do hơn. Có thể coi AEC như là một “FTA+” (khu vực mậu dịch tự do có bổ sung thêm sự di chuyển tự do của các yếu tố sản xuất) hay một “Thị trường chung-” (một thị trường chung nhưng không có 4 z chính sách chung). Về những vấn đề mà AEC đang phải đối mặt, tác giả Hoàng Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2013) trong bài viết “Hiện thực cộng đồng ASEAN 2015: Thuận lợi và trở ngại” cũng đồng tình với quan điểm của tác giả Nguyễn Hồng Sơn như : (i) Chênh lệch phát triển lớn; (ii) thị trường bị chia cắt; (iii) chủ nghĩa bảo hộ hay quốc gia hóa còn cao; (iv) đàm phán về thương mại, dịch vụ chậm và thiếu sự hợp tác tiền tệ.
Các tác giả còn chỉ ra xu hướng ly tâm của các quốc gia thành viên khi thấy rằng tỷ trọng đầu tư nội khối khiêm tốn hơn đầu tư ngoại khối và một số bất cập trong nguyên tắc và cơ chế hoạt động của AEC.Tác giả Võ Trí Thành (2012) còn chỉ ra một vấn đề gây trở ngại lớn cho tiến trình hội nhập của AEC trong bài viết “Hội nhập kinh tế ASEAN: AEC và Việt Nam” đó là việc xây dựng thể chế khu vực còn chưa được hoàn thiện, mặc dù đã có những tiến triển nhưng vẫn chưa bắt kịp tốc độ hội nhập. Bên cạnh đó, bối cảnh phức tạp của thế giới ở thời điểm hiện tại như sự lớn mạnh của Trung Quốc, các nước BRIC, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng người di cư, … cũng đặt ra một thách thức lớn đối với một khu vực kinh tế còn khá non yếu như AEC. Như vậy, chúng ta thấy rằng, những nghiên cứu này đã nghiên cứu một cách khát quát nhất, tổng thể nhất về Cộng đồng kinh tế ASEAN chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế về thể chế, cách thức hoạt động của AEC mà chưa đi sâu phân tích những khía cạnh vấn đề cụ thể, ngành nghề cụ thể trong AEC. Các nghiên cứu về thời cơ, thách thức của Việt Nam khi AEC thành lập Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Thiên (2014)“Hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức với VN” đã chỉ ra rằng, mặc dù lợi thế so sánh mà VN có được là những lợi thế cấp thấp, nhưng AEC cũng sẽ mang lại cho VN nhiều cơ hội tốt như tăng quy mô xuất khẩu đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ thương mại, thu hút đầu tư, tạo nhiều việc làm, mức lương của người lao động sẽ gia tăng, … tạo điều kiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nền kinh tế VN cũng sẽ đối mặt với nhiều thách thức như sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt ở tất cả các ngành của nền kinh tế, khả năng bị mất thị trường ngay cả thị trường nội địa, khả năng bị mất các nguồn vốn đầu tư và thị trường lao động cũng sẽ phải đối mặt với thách thức lớn từ 5 z việc tự do di chuyển lao động. Cũng nghiên cứu về chủ đề này,ngoài những vấn đề nêu trên, tác giả Nguyễn Quốc Toản (2014) trong bài viết “Khơi thông các động lực nhằm tạo lập vị thế của VN trong sân chơi Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015” lại nhấn mạnh đến việc VN cần phải thực sự nỗ lực để không rơi vào tụt hậu và bẫy thu nhập trung bình, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang có nhiều biến động như hiện nay. Tác giả Huỳnh Tấn Hưng (2014) với bài viết “Các chính sách thực hiện hiệu quả của VN khi tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN” cũng là một nghiên cứu sâu về nền kinh tế VN trong bối cảnh thành lập AEC, tác giả nhấn mạnh đến những khó khăn mà VN nói riêng và các nước ASEAN nói chung gặp phải khi thực hiện hiệp định ASEAN+1 với Trung Quốc với những lo ngại về tình trạng bị bạn hàng làm khó về giá, hợp đồng, khối lượng hàng hóa … Ngoài ra, tác giả cũng nhấn mạnh đến những thuận lợi và khó khăn của VN về vấn đề cải cách trong nội bộ để phù hợp với hoàn cảnh mới khi thành lập AEC như cải cách các chính sách, pháp luật, thể chế; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước; tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp …Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tâm (2014) với “Cơ hội và thách thức của VN khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” đã đặc biệt nhấn mạnh ở những thuận lợi từ việc giảm thuế và mở rộng cơ hội xuất khẩu. Theo đó, việc xuất khẩu sang các nước ASEAN sẽ dễ dàng gần như bán hàng trong nước bởi hầu hết các dòng thuế đều về 0%.
Nhưng khó khăn do năng suất lao động thấp là một trở ngại lớn cho VN bởi nó có thể làm xói mòn lợi thế lao động giá rẻ của chúng ta so với các nước trong khu vực. Như vậy, những nghiên cứu trên đã phân tích những cơ hội và thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu phân tích các cơ hội và thách thức của Việt Nam trên phương diện tổng thể, hoặc thiên hơn về phương diện kinh tế và chưa có nghiên cứu nào đi vào phân tích trên phương diện lao động và tự do di chuyển lao động. Các nghiên cứu về AEC trong một số lĩnh vực cụ thể Về lĩnh vực đầu tư, tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2014) có bài viết về “Tự do hóa đầu tư trong AEC và sự tham gia của VN” nghiên cứu về sự tham gia của VN 6 z vào AEC trong lĩnh vực tự do hóa đầu tư thông qua phân tích (i) các cam kết và việc thực hiện cam kết của Việt Nam trong Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA); (ii) thực trạng quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài của ASEAN và Việt Nam; (iii) cơ hội và thách thức mà AEC mang lại cho Việt Nam từ góc độ tự do hóa đầu tư.
Theo tác giả, ASEAN là khu vực tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Với lợi thế về lao động giá rẻ, Việt Nam đang tận dụng tốt ưu thế của mình nên lượng FDI đổ vào VN đang tăng dần theo từng năm. Việc tự do hóa đầu tư sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình biến ASEAN thành một cơ sở sản xuất thống nhất, khi đó VN không chỉ tham gia vào công đoạn thấp mà còn có cơ hội tham gia vào công đoạn cao hơn trong chuỗi giá trị sản xuất khu vực. Tuy nhiên, tác giả lo ngại rằng, khi lợi thế này ngày càng mất đi do sự cân bằng giá cả trong khu vực thì VN có thể cạnh tranh với các nước ASEAN phát triển trước trong thu hút FDI ở các công đoạn cao hơn, mà ở đó yếu tố công nghệ và lao động có chất lượng là yếu tố quyết định? Về vấn đề thương mại quốc tế, tác giả Hà Văn Hội (2013) có bài viết “Tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc tế của VN”.
Bài viết chú trọng vào phân tích những tác động của AEC đến thương mại quốc tế của VN mà chủ yếu là trong thương mại hàng hóa. Theo đó, AEC sẽ là một nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc gia tăng khối lượng trao đổi hàng hóa, tăng trưởng và làm thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo hướng tích cực, gia tăng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu và mở rộng thị trường cho hàng hóa VN ra nước ngoài. Đồng thời giúp ồn định nguồn nhập khẩu và giảm giá đầu vào hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, VN phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn không chỉ ở thị trường nước ngoài mà cả thị trường nội địa bởi những cơ hội và ưu tiên mà AEC mang lại cho các quốc gia thành viên là đồng đều nhau.
Đặc biệt là lĩnh vực thương mại dịch vụ như logistic, vận tải, ngân hàng, tài chính … là ngành mà VN yếu thế hơn hẳn các thành viên ASEAN-5 về thực lực tài chính, công nghệ, mạng lưới rộng lớn và tính đa dạng về sản phẩm.