PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thành phố Cao Lãnh là đô thị loại II trực thuộc tỉnh, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật của tỉnh Đồng Tháp. Trong những năm gần đây, tốc độ ĐTH tại TP Cao Lãnh diễn biến nhanh khiến cho cư dân ở đô thị tăng theo cùng với biến đổi khí hậu đã tác động mạnh đến điều kiện canh tác và ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng SXNN. ĐTH cũng làm cho diện tích đất SXNN của TP Cao Lãnh bị thu hẹp dần.
Từ đó đặt ra cho ngành nông nghiệp phải thay đổi tư duy và nghiên cứu phát triển NNĐT; tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, có năng suất, chất lượng, an toàn và bảo vệ môi trường hướng đến đáp ứng nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng trong từng bối cảnh. NNĐT có quy mô nhỏ nhưng dễ dàng tiếp cận công nghệ, quản lý sâu bệnh, phân bón, nước tưới và giàu tiềm năng về đầu tư, chăm sóc để đạt được năng suất cao. NNĐT còn có khả năng phát triển theo các mô hình chuyên biệt để cung ứng nhiều dịch vụ cho đô thị như: cung cấp cây xanh, hoa tươi và thực phẩm. NNĐT cũng tái sử dụng chất thải đô thị để làm phân bón, nước tưới, góp phần quan trọng giảm ô nhiễm môi trường.
NNĐT đã xuất hiện nhiều nơi trên thế giới với quy mô về số lượng ngày càng tăng. Nguyên nhân là lượng người chuyển đến sinh sống ở thành phố ngày càng nhiều trong khi thế giới đang tìm cách sản xuất thêm lương thực và sử dụng ít các tài nguyên như nước và đất. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế cùng với tiềm năng và thế mạnh đã đặt ra cho ngành nông nghiệp của TP Cao Lãnh cần phát triển theo hướng NNĐT; gắn với mở rộng liên kết, hợp tác đầu tư; tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Để thực hiện mục tiêu này cần có các đột phá về chiến lược, chính sách về quản lý; lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi có thế mạnh của địa phương gắn chặt với ứng dụng công nghệ cao.
Từ đó tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng, an toàn, có năng suất phù hợp với hoạt động dự báo thị trường và xúc tiến thương mại trên phạm vi trong lẫn ngoài nước. 1 Luan van Nhận thức vai trò, vị trí, tầm quan trọng của NNĐT nhằm đóng góp thay đổi mới về cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu phát triển NNĐT; học viên quyết định chọn đề tài “Phát triển nông nghiệp đô thị tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” làm luận văn tốt nghiệp cao học ngành Quản lý Kinh tế tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Các công trình nghiên cứu trước có liên quan 2.1 Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp đô thị ở ngoài nước René Van Veenhuizen (2006) đã nghiên cứu về “Cities Farming for the Future - Urban Agriculture for Green and Productive Cities” xuất bản tại Philippines 2006 thuộc International Institute of Rural Reconstruction and ETC Urban Agriculture, sinh kế của một số lượng lớn người dân thành phố ở các nước đang phát triển; đặc biệt là người nghèo và phụ nữ phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần về NNĐT. Những hoạt động nông nghiệp diễn ra trong nhiều bộ phận khác nhau của các thành phố, tại trong bãi sau nhà, dọc theo suối, đường sắt, trên các khoảng trống của tư nhân.
Những tác động bất lợi tiềm năng của NNĐT về sức khỏe như các rủi ro liên quan đến tưới tiêu của cây lương thực với nước thải đô thị, ô nhiễm dưới đất do hóa chất sinh học; các tác động tích cực và tiêu cực từ NNĐT phụ thuộc lớn vào nhiều biện pháp thực hiện bởi chính quyền địa phương nhằm nâng cao lợi ích của NNĐT trong khi giảm các rủi ro liên quan. Chính quyền thành phố cần xem xét kỹ lưỡng khi nông nghiệp không tương thích với phát triển đô thị trong xu thế phát triển bền vững. Misha Ketchell (2019) đã nghiên cứu “Làm thế nào nông nghiệp đô thị cải thiện an ninh lương thực tại các thành phố của Mỹ”, nhiều tổ chức xem NNĐT hướng đến tăng cường an ninh lương thực, NNĐT cũng cung cấp về môi trường, sức khỏe và lợi ích xã hội. Trồng trọt trái cây tươi, rau quả và các sản phẩm động vật gần người tiêu dùng trong các khu vực đô thị khả dĩ cải thiện an ninh lương thực và dinh dưỡng địa phương.
Sự tăng trưởng của NNĐT đã phát triển hơn 30% tại Hoa Kỳ trong 30 năm qua. Một cuộc khảo sát gần đây cho thấy 51 quốc gia không đủ khu vực đô thị để đáp ứng mục tiêu dinh dưỡng đề nghị là 300 gram/người/ngày về rau tươi. Hơn nữa, ước tính NNĐT đòi hỏi 30% tổng diện tích đô thị của các 2 Luan van quốc gia để đáp ứng nhu cầu toàn cầu về rau. Các nghiên cứu khác cho thấy NNĐT giúp thành phố đạt được tự túc.000 trang trại đô thị và khu vườn sản xuất khoảng 50% cung cấp sản phẩm tươi, cùng với 39.000 tấn thịt và 216.
Hầu hết nông dân đô thị Cuba đạt sản lượng 44 pounds (20 kg) cho mỗi mét vuông năm. Năm 2008 có hơn 20 vạn thị dân Cuba làm việc trong ngành này, sử dụng 140 km2 đất đô thị. Nhóm nghiên cứu của Đại học California tại Berkeley thành lập một khu vườn đa dạng chứa tổng cộng 492 cây thuộc 10 loài cây trồng. Chúng được trồng trong một thiết kế đa văn hóa hỗn hợp.
Trong 3 tháng đã sản xuất được gần với mức mong muốn hàng năm bằng cách sử dụng thực hành và cải thiện sức khỏe đất cũng như kiểm soát dịch hại sinh học bao gồm sử dụng phân xanh, trồng theo lợi ích của đất và sự hiệp đồng với các DN cung cấp cây trồng trong sắp xếp xen kẽ để giảm sâu bệnh, cung cấp nước ở mức giảm giá cho nông dân đô thị, với yêu cầu phải sử dụng thực hành hiệu quả. Một giải pháp cho các thành phố để trống và sử dụng đất công cộng có sẵn cho NNĐT với mức phí thuê thấp. Tại Cairo, một nhóm giáo sư nông nghiệp phát triển phương pháp trồng rau trên sân thượng tại khu vực đô thị đông dân, sau đó được mở rộng nhanh khi có hậu thuẫn chính thức của FAO vào năm 2001. Tại Mumbai, một trong các thành phố có mật độ dân cao nhất thế giới, người dân làm vườn hữu cơ quy mô nhỏ, hộ gia đình tự túc được 5 kg rau quả/ngày trong 300 ngày của năm.
Ở Trung Quốc, tại nhiều thành phố lớn của nước này, NNĐT và ven đô cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịt trứng của người dân. Riêng Thượng Hải dùng đến 60% rau, 90% trứng và có 800.000 việc làm từ NNĐT; Bắc Kinh thu 271 triệu USD/năm nhờ khai thác du lịch từ NNĐT. Ước tính, trên thế giới hiện có khoảng 800 triệu người kiếm sống nhờ sản xuất thức ăn, lương thực từ NNĐT. Ngoài ra còn có khả năng phát triển theo các mô hình chuyên biệt để cung ứng nhiều dịch vụ cho đô thị như cung cấp cây xanh, hoa tươi và thực phẩm cho khách sạn; cung ứng dịch vụ du lịch, dịch vụ an dưỡng.
NNĐT cũng tái sử dụng chất thải đô thị để làm phân bón, nước tưới và góp phần quan trọng giảm ô nhiễm môi trường.2 Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp đô thị ở trong nước Lê Văn Trưởng (2008) đã nghiên cứu về “Xác định một số đặc điểm của nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị”. Các đô thị ra đời đã kéo theo sự hình thành và phát triển loại hình nông nghiệp mới của nhân loại đó là NNĐT. Đây là sự thống nhất của hai bộ phận cấu thành: nông nghiệp nội thị và ngoại thị. Tác giả đã tiếp cận vấn đề theo ba hướng sau: (1) Hướng thứ nhất, xuất phát từ những đặc điểm của khu vực nội thị và ngoại thị để nghiên cứu đặc điểm của nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị; (2) Hướng thứ hai, tiếp cận theo quan điểm hệ thống, đô thị là hệ thống lớn với sự kết hợp của ba tiểu hệ thống: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái; (3) Hướng thứ ba, tổng hợp những đặc điểm chung nhất những nghiên cứu thực tế nông nghiệp của hàng loạt đô thị trên thế giới: Bắc Kinh, Java, Havana, Mexico city, Nairobi, London, Pari, New York và trong nước như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… Theo Võ Hữu Hòa (2020), với nội dung “Phát triển nông nghiệp đô thị: Hướng đi bền vững cho các đô thị trong tiến trình đô thị hoá”.
Tác giả nhận định: Đô thị hóa là một quá trình tất yếu, không thể không xảy ra, dù muốn hay không muốn tương lai của thế giới vẫn nằm ở các thành phố. Đó là kết luận của hội nghị thượng đỉnh thế giới về đô thị do Liên Hợp Quốc tổ chức tại Istanbul. Thực tế tốc độ ĐTH của nước ta đang diễn ra ngày càng nhanh về cả quy mô và số lượng; ĐTH nhanh trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam thực sự đã làm nảy sinh nhiều bất cập. Phát triển NNĐT là giải pháp tối ưu để giải quyết các bất cập này.
Mặc dù chỉ mới phát triển mạnh từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây; song NNĐT đã góp phần rất lớn trong chiến lược phát triển bền vững của các đô thị trên thế giới. Ở nước ta, NNĐT đã hiện diện song còn ở dạng manh mún, phần lớn là từ sự sáng tạo của người dân. Mặc dù phạm vi hoạt động chưa rộng, mức độ phát triển chưa cao, chưa toàn diện, nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường của NNĐT đã được chứng minh ở nhiều thành phố thuộc các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới. Hy vọng NNĐT sẽ là giải pháp và là hướng đi chiến lược cho sự phát triển nhanh, bền vững của các đô thị trong tiến trình ĐTH hiện nay của nước ta.
4 Luan van Theo Hoàng Thị Ngọc Ánh (2016), trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, ĐTH là một quá trình tất yếu khách quan. ĐTH trong điều kiện tiền công nghiệp hóa làm tăng thêm khó khăn cho các đô thị như một bộ phận lao động trong nông nghiệp mất đất sản xuất, trở nên thiếu việc làm; dân cư từ nông thôn chuyển về đô thị để làm việc góp phần gia tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm; ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước.