CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT 1. Các khái niệm liên quan đến lĩnh vực trồng trọt 1. Khái niệm về trồng trọt Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế, được hiểu là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Theo nghĩa rộng, ngành nông nghiệp gồm có trồng trọt và chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản, làm muối. Chăn nuôi là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, điều kiện chăn nuôi, chế biến và thị trường sản phẩm chăn nuôi. Lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác dụng phòng hộ nhiều mặt của rừng. Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường.
Theo Luật trồng trọt số 31/2018/QH14 ban hành ngày 19/11/2018, khái niệm liên quan trọt như sau: “Trồng trọt là ngành kinh tế - kỹ thuật trong nông nghiệp có liên quan đến việc gieo trồng cây nông nghiệp, cây cảnh và nấm ăn để phục vụ mục đích của con người” [11, Tr. “Hoạt động trồng trọt bao gồm hoạt động về giống cây trồng; phân bón; canh tác; thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến, thương mại và quản lý chất lượng sản phẩm cây trồng”[11, Tr. Vai trò và nguyên tắc của hoạt động trồng trọt 8 Luan van 1. Vai trò của hoạt động trồng trọt Nhiệm vụ hàng đầu của nông nghiệp là phục vụ đời sống con người.
Ngay từ khi nông nghiệp chưa phát triển, con người phải đi hái quả rừng để phục vụ cuộc sống, và hiện nay quả rừng vẫn còn đóng góp một phần đáng kể vào khẩu phần ăn hàng ngày. Từ khi có nghề trồng trọt, con người đã biết thuần hoá các cây mọc dại. Hiện nay, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật nên nghề trồng trọt ngày càng giữ một vai trò quan trọng. Trồng trọt là nền tảng của sản xuất nông nghiệp, cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân cư, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, là cơ sở để phát triển chăn nuôi và còn là nguồn xuất khẩu có giá trị theo giá trị sử dụng góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà.
Trồng trọt vẫn đang là lĩnh vực đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu giá trị sản xuất cũng như xuất khẩu của toàn ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt đảm nhiệm xuất sắc vai trò đảm bảo an ninh lương thực – thực phẩm trong nước, tạo công ăn việc làm và không ngừng nâng cao đời sống cho nông dân. Trồng trọt là lĩnh vực sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người. Phát triển lĩnh vực trồng trọt sẽ nâng cao mức sản xuất và tiêu dùng lương thực, thực phẩm bình quân trên đầu người, tạo cơ sở phát triển nhanh một nền nông nghiệp toàn diện. Là lĩnh vực sản xuất và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, lĩnh vực trồng trọt phát triển theo hướng mở rộng dần tỷ trọng diện tích các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phát triển công nghiệp nhẹ công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến.
Phát triển trồng trọt sẽ đảm bảo nguồn thức ăn dồi dào và vững chắc cho ngành chăn nuôi, thúc đẩy sự hình thành các vùng chuyên canh sản xuất cây thức ăn và phát triển công nghiệp chế biến thức ăn cho chăn nuôi, trên cơ sở đó chuyển dần chăn nuôi theo hướng sản xuất tập trung và thâm canh cao. Lĩnh vực trồng trọt phát triển có ý nghĩ to lớn và quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Lĩnh vực trồng trọt phát triển làm cho năng suất 9 Luan van cây trồng tăng, đặc biệt là năng suất cây lương thực tăng, nhờ đó sẽ chuyển nền sản xuất nông nghiệp từ độc canh lương thực sang nền nông nghiệp đa canh có nhiều sản phẩm hàng hoá giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường và góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Lĩnh vực trồng trọt có tầm đặc biệt quan trọng, bảo đảm an ninh lương thực, hỗ trợ phát triển cho các ngành kinh tế khác.
Chính vì vậy, đẩy mạnh phát triển, nâng cao giá trị gia tăng cho lĩnh vực trồng trọt không chỉ hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực, mà còn có vai trò lớn hơn là thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng, nâng cao thu nhập cho nông dân. Nguyên tắc của hoạt động trồng trọt - Phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với định hướng thị trường, phù hợp với chiến lược phát triển trồng trọt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các nguồn tài nguyên khác; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hợp tác, liên kết sản xuất, xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, sản xuất có hợp đồng, sản xuất được chứng nhận chất lượng; bảo đảm an ninh lương thực; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân. - Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng; sử dụng an toàn và hiệu quả các loại vật tư nông nghiệp. -Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường đất, nước, quy trình sản xuất; bảo đảm an toàn thực phẩm, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường.
- Phát huy lợi thế vùng, gắn với bảo tồn giống cây trồng đặc sản, giống cây trồng bản địa; bảo vệ hệ thống canh tác bền vững, bảo vệ di sản, cảnh quan, văn hóa trong nông nghiệp gắn với phát triển du lịch sinh thái và xây dựng nông thôn mới. - Chủ động dự báo, phòng, chống thiên tai và sinh vật gây hại cây trồng; thích ứng với biến đổi khí hậu. - Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; tuân thủ điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Chính sách phát triển lĩnh vực trồng trọt 10 Luan van 1.
Khái niệm chính sách phát triển lĩnh vực trồng trọt Để hiểu rõ về khái niệm “Chính sách phát triển lĩnh vực trồng trọt”, trước tiên, chúng ta cần phải nắm rõ “Thế nào là chính sách?”. Thuật ngữ “chính sách” vốn hàm ý như một sự đối xử ưu đãi của Nhà nước đối với một nhóm tổ chức, cá nhân nhất định. Có thể hệ thống hóa một số định nghĩa về “chính sách” (hay chính xác hơn về mặt thuật ngữ gọi là “chính sách công”) được một số học giả xử dụng như sau: Quan điểm của Thomas Dye (1972) cho rằng “ Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. Đáng lưu ý, chính sách công theo cách tiếp cận của Dye là sản phẩm hành động của nhà nước chứ không phải của các chủ thể phi nhà nước.
Theo nhà nghiên cứu William Jenkins (1978) thì “ Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”. Theo PGS, TS. Đỗ Phú Hải nêu ra định nghĩa một cách chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện các vấn đề xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền [5]. Nhiều học giải ở các nước phát triển cho rằng một chính sách (của nhà nước) có 5 đặc điểm cơ bản là: (1) có tính mục đích; (2) được ban hành bởi chủ thể công quyền; (3) đó có thể là chuỗi hành động (hành động thực tiễn được thực thi chứ không dừng lại ở những văn bản tuyên bố); (4) được sinh ra để giải quyết một hoặc một nhóm vấn đề nhất định; (5) được bản đảm thực hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
Trong bài nghiên cứu Bàn về khái niệm chính sách công, tác giả Hồ Việt Hạnh với các cách tiếp cận chính sách công từ nhiều góc độ đã cung cấp cách nhìn mới, có tính gợi mở về chính sách công gắn với thực tiễn Việt Nam. Trên cơ sở tiếp 11 Luan van cận đó, tác giả cho rằng “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết các vấn đề về lợi ích chung của cộng đồng” [6]. Như vậy, chính sách công ở tầm khái quát nhất chính là công cụ để Đảng cầm quyền và chính quyền thể hiện thái độ, hành vi ứng xử của mình về việc giải quyết các vấn đề của đất nước, của thực tiễn đời sống cộng đồng thông qua chương trình hành động với các giải pháp can thiệp nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình. Trên cơ sở các quan niệm trên, có thể nhận thấy, có 3 thành tố mà trong định nghĩa về chính sách mà các học giả, nhà nghiên cứu đề cập tới là: (1) vấn đề cần giải quyết; (2) mức độ giải quyết của vấn đề ( hay còn gọi là mục tiêu của chính sách hay mục tiêu chính sách); (3) các phương án hành động cụ thể của nhà nước/chính quyền cần thực hiện (với nguồn lực về tổ chức bộ máy, con người, nguồn kinh phí kèm theo) để giải quyết vấn đề.
Như vậy, chính sách, vì thế, là một trong những công cụ giao tiếp, tương tác quan trọng giữa nhà nước và Đảng cầm quyền đối với xã hội. Hoạch định chính sách và thực thi chính sách là một trong những phương thức tồn tại cơ bản của nhà nước và Đảng cầm quyền, thông qua đó, những áp lực/đòi hỏi/vấn đề của xã hội được bộ lộ, ghi nhận, đáp ứng và giải quyết.