phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được kết cấu gồm 4 chương, 11 tiết. luan an 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƢỚC 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao Bài viết “An Overview of Land Consolidation in Europe”114 “Tổng quan về tập trung đất đai ở châu Âu” của Arvo Vitikainen, D.
Theo tác giả, vào cuối thế kỷ XX một loạt nước Đức, Hà Lan, Pháp, Bỉ, Luxembourg, Áo và Thụy Sĩ cũng như Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển đã đẩy mạnh hoạt động TTRĐ để phát triển sản xuất NNCNC. Hoạt động này diễn ra ở hầu hết các nước trên xuất phát từ một trong những yêu cầu là nông dân muốn tăng thu nhập thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) hiện đại, đồng thời thích với tình hình thị trường mới. Ngoài ra, TTRĐ còn được coi là một công cụ để cắt giảm SXNN một cách có kiểm soát và tăng năng suất bằng cách hạ thấp chi phí. Cùng với mục tiêu này, TTRĐ đặc biệt là ở các nước Trung Âu nhằm hình thành sự phát triển nông thôn đa chiều với các khía cạnh xã hội, sinh thái và văn hóa… Trong báo cáo:“Structural Change in the Farming Sectors in Central and Eastern Europe - Lessons for EU Accession”101“Thay đổi cấu trúc trong các lĩnh vực nông nghiệp ở Trung và Đông Âu: bài học gia nhập EU”, tác giả Csaba Csaki, Zvi Lerman đã chỉ ra sự cần thiết của quá trình TTRĐ để phát triển SXNN quy mô lớn CNC của mười quốc gia trong tiến trình gia nhập Liên minh châu Âu (Bulgaria, Séc, Estonia, Hungary, Lithuania, Ba Lan, Tumani, Slovakia, và Slovenia).
Để có nền nông nghiệp phát triển theo kịp các nước trong EU,các nước này đã tập trung vào cải cách trong nông nghiệp, sửa đổi Luật đất đai và các thể chế pháp lý để phát triển thị trường QSDĐ nông nghiệp nhằm tạo thuận lợi cho quá trình TTRĐ, mở rộng quy mô sản xuất để tăng khả luan an 8 năng cạnh tranh. Điều này đã góp phần đưa nông nghiệp các nước trên phát triển, hòa nhập được với các nước trong EU. Bài viết “Sustainable development of the rural economy” 108 “Phát triển bền vững kinh tế nông thôn” của Sándor Magda, Róbert Magda và Sándor Marselekcho rằng thành công của nông nghiệp Hungary hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào sử dụng tiềm năng của kinh tế nông nghiệp nông thôn. Giống như các nước hậu xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu, ruộng đất nông nghiệp từ các trang trại tập thể và HTX được chia cho cho các hộ gia đình cá nhân.
Điều này rất quan trọng đối với an ninh lương thực hộ gia đình, nhưng theo thời gian, diện tích quy mô nhỏ, phân tán trở thành lực cản cho sự phát triển SXNN ở năng suất và khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Từ thực trạng trên, Chính phủ đã tiến hành cải cách trong nông nghiệp, thực hiện các biện pháp để TTRĐ đưa SXNN phát triển theo hướng tập trung quy mô lớn, công nghệ cao (CNC). Nhờ đó nền nông nghiệp của Hungary ngày nay rất phát triển. “The role of formal and informal institutions in farmland consolidation: The case of Shiga Prefecture, Japan”110 “Vai trò của các tổ chức chính thức và không chính thức trong hợp nhất đất nông nghiệp: Trường hợp của tỉnh Shiga, Nhật Bản” của tác giả Daisuke Takahashi, Tsaiyu Chang và Mikitaro Shobayashi.
Đây là một nghiên cứu chuyên sâu về TTRĐ nông nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm SXNN Nhật Bản dựa trên cơ sở trang trại gia đình, quy mô nhỏ, phân tán, điều này dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Vì vậy, các tác giả đã chỉ ra sự cần thiết của việc TTRĐ nông nghiệp, vai trò của các tổ chức không chính thức trong cộng đồng để thúc đẩy quá trình TTRĐ nông nghiệp như thế nào., Trên cơ sở đó đề xuất một mô hình TTRĐ thông qua vai trò của cộng đồng nông thôn dựa trên phân tích định lượng một cộng đồng nông thôn ở quận Shiga. “The Rise of Large-Scale Farms in Land-Abundant Developing Countries: Does it have a future?” 105 “Sự trỗi dậy của các trang trại quy mô lớn ở các nước đang phát triển dồi dào đất: Liệu nó có một tương lai?” củaKlaus luan an 9 Deininger và Derek Byerlee.
Thông qua việc nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa trang trại nhỏ và lớn đại diện ở các quốc gia: Đông Âu và Trung Á (bao gồm các nước Slovakia, Kazakhstan, Nga, Albania, Latvia, Slovenia, Ukraina); Đông Nam Á (Malaysia và Indonesia); Châu Phi cận Sahara (Sudan, Nigeria, Nam Phi), Mỹ Latin bao gồm (Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay) các tác giả cho rằng, trong từng giai đoạn, hiệu quả của các trang trại là khác nhau. Tuy nhiên trong những năm gần đây những thay đổi về KHCN và thị trường đã cho thấy các trang trại quy mô lớn đem lại hiệu quả kinh tế hơn các trang trại nhỏ, vì vậy các chính phủ cần nhanh chóng cải cách chính sách đất đai nhằm tạo thuận lợi cho quá trình TTRĐ hình thành các trang trại nông nghiệp quy mô lớn. “Main problems of agriculture and ruralareas in Poland in the period oftransformation and integration withEuropean Union”104 “Các vấn đề chính của nông nghiệp và nông thôn các khu vực ở Ba Lan trong giai đoạn chuyển đổi và hội nhập với Liên minh châu Âu của” củaJozef Stanistaw Zegar và Zbigniew Florianczyk, đã chỉ ra những thay đổi của SXNN Ba Lan trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Trong quá trình này Chính phủ Ba Lan đã thực hiện các chính sách vĩ mô như: tư nhân hóa ruộng đất, cung cấp ruộng đất từ các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) do nhà nước quản lý cho thị trường đất đai thông qua việc thanh lý.
Nhờ đó đã đẩy nhanh quá trình TTRĐ, hình thành các trang trại SXNN quy mô lớn ƯDCNC, nông nghiệp Ba Lan được định hướng phát triển theo mô hình nông nghiệp Châu Âu. Kết quả của quá trình này đã góp phần đưa nông nghiệp Ba Lan phát triển, và xếp vào nhóm các thành viên lớn của EU, cùng với Đức, Anh, Pháp, Italy và Tây Ban Nha, hiện Ba Lan là nền kinh tế đứng thứ 20 thế giới. “Large scale farming is driven by a relentless quest for efficient production and concentration along the food supply chain” 107 “Nuôi trồng quy mô lớn được thúc đẩy bởi một nhiệm vụ không ngừng để sản xuất và tập trung hiệu quả dọc theo chuỗi cung ứng thực phẩm” của Richard J. Sexton, đã chỉ ra nguyên nhân xu hướng TTRĐ, mở rộng quy mô trang trại ngày nay tăng luan an 10 lênlà do, thị trường ngày càng tăng, yêu cầu của sự liên kết tất cả các giai đoạn (sản xuất, chế biến và bán lẻ), của chuỗi cung ứng “từ nông trại đến bàn ăn”, vì vậy, các nhà chế biến lớn yêu cầu các trang trại mở rộng quy mô để đáp ứng nhu cầu cao hơn cho các sản phẩm tiêu chuẩn hóa.
Trong cuốn sách“The agricultural development of Japan”111“Sự phát triển nông nghiệp của Nhật Bản” của tác giả Yujiro Hayami, đã tập trung phân tích, đánh giá sự phát triển nhanh của nông nghiệp Nhật Bản giai đoạn cuối thế kỷ XX và chỉ ra nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phát triển đó là: trước hết do chính phủ thực hiện cải cách ruộng đất; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn (thủy lợi kiên cố, hiện đại, hệ thống giao thông nông thôn liên hoàn) nhằm tạo thuận lợi cho việc đẩy nhanh quá trình TTRĐ, ứng dụng KHCN tiên tiến vào sản xuất và trong chế biến các sản phẩm của nông nghiệp. “Agricultural Land Markets and Land Leasing in the Former Yugoslav Republic of Macedonia”[106]“Thị trường đất nông nghiệp và cho thuê đất ở Cộng hòa Macedonia(thuộc Nam tư cũ)” của tác giả Neda Petroska Angelovska, Marija Ackovska và Štefan Bojnec. Nghiên cứu chỉ ra rằng ruộng đất thuộc sở hữu của các trang trại gia đình với diện tích nhỏ đó là một trong những trở ngại lớn cho quá trình hiện đại hoá SXNN. Từ thực tế trên, chính phủ đã tiến hành cải cách chính sách ruộng đất, tạo thuận lợi cho thị trường QSDĐ nông nghiệp phát triển, đồng thời đẩy mạnh hoạt động cho thuê dài hạn diện tích ruộng đất của nhà nước đang sở hữu thông qua sự vận hành của thị trường đất đai.
Điều đó đã thúc đẩy việc TTRĐ hình thành các trang trại SXNN quy mô lớn, công nghệ cao. “Agriculture Land Policies of Taiwan”[102] “Chính sách Nông nghiệp của Đài Loan” của Hwang-Jaw Lee, đã nêu lên đặc điểm của SXNN Đài Loan phổ biến là trang trại gia đình quy mô nhỏ. Năm 1953, hòn đảo này có đến 673 ngàn trang trại với quy mô là 1,29ha/một trang trại, năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.266 với quy mô chỉ còn 1,08ha. Để khắc phục hạn chế của SXNN quy mô nhỏ và thúc đẩy sản xuất tập trung quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hội nhập, chính phủ thông qua 3 giai đoạn cải luan an 11 cách chính sách nông nghiệp, từng bước tiến hành TTRĐ để phát triển SXNN quy mô lớn công nghệ cao.
Nhóm các công trình nghiên cứu những khó khăn vƣớng mắc, yêu cầu đặt ra và giải pháp của tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao Bài viết “Land Mobility in a Central and Eastern European Land Consolidation Context”113 “Tập trung ruộng đất ở Trung và Đông âu” của Morten Hartvigsen đã phân tích và chỉ ra điểm chung ở hầu hết các nước trong khu vực Trung và Đông Âu sau năm 1989 là đều thực hiện cải cách ruộng đất theo hướng chia nhỏ cho các hộ gia đình. Những năm gần đây trước ưu thế của SXNN quy mô lớn, CNC các quốc gia trong khu vực này lại có xu hướng cải cách nhằm thúc đẩy quá trình TTRĐ hình thành các trang trại lớn. Hiện tại hầu hết các nước trong khu vực đang thực hiện quá trình TTRĐ phát triển SXNN theo hướng quy mô lớn CNC với sự giúp đỡ của các quốc gia đã thực hiện thành công chương trình này như Cộng hòa Séc, Slovakia, (Đông) Đức, Ba Lan, Slovenia và Litva và đặc biệt là được giúp đỡ của FAO qua các dự án với sự hỗ trợ kỹ thuật từ các chuyên gia đến từ Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch.