CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững và phát triển bền vững xuất khẩu điện năng 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững 1. Khái niệm và nội hàm phát triển bền vững Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được đề cập vào năm 1980 trong bản báo cáo Chiến lược bảo tồn thế giới do Ủy ban Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN-International Union for Conservation of Nature and Natural Resources - IUCN) thuộc Quỹ Động vật hoang dã thế giới và Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc, đó là: “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật”.
Thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật. Khái niệm “phát triển bền vững” được phổ biến rộng rãi và được nhiều quốc gia chấp nhận kể từ năm 1987 trong báo cáo Brundland (hay còn gọi là báo cáo Tương lai của chúng ta) của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (World Commission on Environment and Development - WCED) thuộc Liên Hiệp Quốc. Báo cáo này nêu rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Khái niệm về phát triển bền vững này mang tính bao quát, không bị giới hạn về phạm vi, hay quy tắc nhất định, và không mang tính cụ thể rõ rệt.
Nội hàm về “phát triển bền vững” những năm sau đó được tiếp tục điều chỉnh và bổ sung tại hai Hội nghị quan trọng về vấn đề phát triển bền vững. Hội nghị thứ nhất về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) hay còn gọi là Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất được tổ chức tại Rio de Janeiro, Brazil năm 1992. Hội nghị này đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và chương trình nghị sự phát triển bền vững, được gọi là Chương trình Nghị sự (Agenda 21). Hội nghị thứ hai được tổ chức tại Johannesburg, Cộng Hòa Nam Phi năm 2002 về Phát triển bền vững hay còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg.
Các đại biểu tham gia Hội nghị này đã xác định phải xúc tiến và thực hiện Chương trình Nghị sự luan an 13 21 và đề ra các mục tiêu cho thiên niên kỷ 21. Hội nghị này đã xác định phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của của sự phát triển (gồm: phát triển kinh tế mà nền tảng là tăng trưởng kinh tế; phát triển xã hội với mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo; bảo vệ môi trường với mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Kể từ sau báo cáo Brundland năm 1987, nhiều nhà kinh tế học tập trung nghiên cứu nhiều về vấn đề phát triển bền vững. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây.
Barbier và Markandya (1990) đã tổng hợp các lý thuyết và đưa ra khái niệm phát triển bền vững theo nghĩa rộng (phát triển bền vững liên quan đến ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên) và theo nghĩa hẹp (phát triển bền vững về môi trường, nghĩa là khai thác một cách tối ưu tài nguyên thiên nhiên theo thời gian). Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1995) với đề tài nghiên cứu: "Tiến tới môi trường bền vững” đã tiếp thu và cụ thể hóa khái niệm phát triển bền vững, coi nó như một quá trình và xem xét trên bốn phương diện: bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. Hofkes (1996) đã đưa ra mô hình tăng trưởng trong đó đưa vào các yếu tố tài nguyên thiên nhiên để từ đó có thể tính toán mức khai thác tối ưu theo nghĩa bền vững về môi trường. Sổmbắt Dialyhơ (2010) với đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ: “Phát triển Thủ đô Viêng Chăn theo hướng đô thị bền vững” cũng đã đề cập đến phát triển bền vững là khái niệm được sử dụng để phán ánh một cách chung nhất về mô hình phát triển nhân loại trong đó nhấn mạnh ba yếu tố căn bản là phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng.
Holden và cộng sự (2014) đã dựa vào Báo cáo của Brudtland (1987) để đưa ra khái niệm về phát triển bền vững cụ thể hơn, đó là: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu của riêng họ. Phát triển bền vững phải đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế; bền vững về mặt hệ sinh thái trong dài hạn; thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người; khuyến khích công bằng xã hội trong phạm vi quốc gia và toàn cầu. Cổng thông tin Phát triển bền vững của UNESCO (2019) thể hiện sự bền vững như là một mô hình để suy nghĩ về tương lai, trong đó các cân nhắc về môi trường, xã hội và kinh tế được cân bằng nhằm theo đuổi chất lượng cuộc sống được cải thiện. Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững Cho đến nay mặc dù đã có nhiều nghiên đưa ra hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá phát triển bền vững của một quốc gia, địa phương hay ngành kinh tế nhưng chưa có sự thống nhất chung.
Nhưng nhìn chung, các bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững chủ yếu tập trung vào 03 khía cạnh chính của phát triển bền vững, đó là về kinh tế, xã hội và môi trường. Một số tổ chức quốc tế tiêu biểu đã công bố bộ tiêu chí về phát triển bền vững, phải kể đến: Bộ tiêu chí của Tổ chức Sáng kiến báo cáo toàn cầu (Global Reporting Initiative – GRI) được công bố vào năm 2002, và sửa đổi, bổ sung vào các năm sau đó. Đây được xem là bộ tiêu chí đầy đủ và rõ ràng nhất cho các doanh nghiệp mặc dù các tiêu chí này cũng vẫn xoay quanh ba trụ cột của phát triển bền vững: kinh tế, xã hội và môi trường (Chi tiết xem Phụ lục 8). Bộ tiêu chí của Ủy ban Phát triển bền vững Liên hợp quốc đã đưa ra bộ chỉ tiêu phát triển bền vững dưới dạng tổng quát nhằm hỗ trợ các quốc gia trong quá trình lập báo cáo về phát triển bền vững của quốc gia mình.
Bộ chỉ tiêu này được công bố vào năm 2001 gồm 58 chỉ tiêu chính về phát triển bền vững, xoay quanh 3 trụ cột của phát triển bền vững, và đề cập thêm các tiêu chí đánh giá lĩnh vực thể chế gồm khung khổ thể chế và năng lực thể chế (Chi tiết xem Phụ lục 9). Bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững do TS. Lê Anh Sơn và nhóm nghiên cứu (2006) trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu của dự án VIE1/021 về Chương trình nghị sự 21, thực hiện định hướng phát triển bền vững đã đề xuất các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá xoay quanh ba trụ cột chính của phát triển bền vững, đó là kinh tế, xã hội, môi trường. Ngoài ra, bộ tiêu chí còn đề cập thêm khía cạnh văn hóa, thể chế (Chi tiết xem Phụ lục 10).
Bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững của Lào gồm 17 chỉ tiêu chung và 1 chỉ tiêu đặc thù vùng. Về cơ bản, bộ chỉ tiêu này có một số chỉ tiêu tương đồng với chỉ tiêu của Liên hợp quốc (Chi tiết xem Phụ lục 11). Các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững xuất khẩu điện năng 1. Mối liên hệ giữa xuất khẩu điện năng và phát triển năng lượng bền vững Muốn phát triển bền vững xuất khẩu điện năng của quốc gia, trước hết phải đảm bảo phát triển ngành điện bền vững trên cơ sở điện năng được sản xuất từ các nguồn năng lượng bền vững, đặc biệt nguồn năng lượng tái tạo; đồng thời ưu tiên đáp ứng nhu luan an 15 cầu sử dụng điện trong nước; và sau đó, phát triển ổn định thị trường xuất khẩu điện.
Do đó, việc tổng quan một số công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa xuất khẩu điện năng và phát triển năng lượng bền vững là rất cần thiết. Cho đến nay, mặt dù có nhiều các nhà kinh tế, nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu về phát triển năng lượng bền vững, nhưng cũng như khái niệm về phát triển bền vững, có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển năng lượng bền vững. Thuật ngữ năng lượng bền vững (sustainable energy development) lần đầu tiên được đề cập đến trong báo cáo Tương lai của Chúng ta năm 1987 của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED), thuộc Liên hợp quốc (UN). Tuy nhiên, khái niệm cũng như vai trò của năng lượng chưa được làm rõ: “Một con đường năng lượng bền vững và an toàn là rất quan trọng để cho sự phát triển bền vững; Chúng tôi vẫn chưa tìm thấy nó” (World Commission on Environment and Development- WCED, 1987).
Kể từ khi thông qua Chương trình nghị sự 21 về Phát triển bền vững toàn cầu với sự tham dự của 179 tại Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992, phát triển bền vững đã trở thành một mục tiêu chính sách quan trọng ở cấp độ toàn cầu, quốc gia và địa phương. Trong đó, phát triển năng lượng được đề cập cùng với phát triển bền vững, và được đề cập chủ yếu trong chương 9 về bảo vệ bầu khí quyển (United Nations, 1992a). Mối liên hệ giữa năng lượng, khí quyển, phát thải nhà kính được nhấn mạnh hơn nữa trong Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992 và Nghị định thư Kyoto năm 1997. Cả hai hiệp ước quốc tế đều kêu gọi cách tiếp cận mới để phát triển năng lượng, trong đó nhấn mạnh vào việc giảm phát thải từ sản xuất và tiêu thụ năng lượng.
Tuy nhiên, khái niệm về phát triển bền vững toàn diện về năng lượng vẫn chưa được đề xuất (United Nations, 1992a, 1992b, 1998).