Tổng quan nghiên cứu

Ngân sách Nhà nước giữ vai trò huyết mạch trong hệ thống tài chính quốc gia, huy động trung bình khoảng 23% đến 25% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và duy trì bộ máy công quyền. Tuy nhiên, công tác phân bổ ngân sách Nhà nước tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2017 bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính cơ cấu. Phương thức lập dự toán chủ yếu vẫn dựa trên số liệu lịch sử và thói quen tăng thêm theo tỷ lệ phần trăm cơ học từ 5% đến 10% so với năm trước, chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với các chỉ số hiệu quả đầu ra và chiến lược phát triển dài hạn. Sự mất cân đối thể hiện rõ khi chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 60% tổng chi ngân sách, lấn át nguồn lực dành cho chi đầu tư phát triển vốn dao động ở mức 25% đến 28%.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân bổ ngân sách Nhà nước, phân tích thực trạng quản lý chi tiêu công tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2017, đồng thời khảo cứu chuyên sâu kinh nghiệm thực tiễn từ hai nền kinh tế tiêu biểu tại châu Á là Hàn Quốc và Trung Quốc. Thông qua việc phân tích dữ liệu vĩ mô và mô hình kinh tế lượng, luận văn xác định các điểm nghẽn thể chế, lượng hóa tác động của phân bổ nguồn lực công tới tăng trưởng kinh tế, từ đó rút ra các hàm ý then chốt cho Việt Nam. Đóng góp của đề tài thể hiện qua việc đề xuất lộ trình tái cơ cấu chi ngân sách, hướng tới cải thiện chỉ số minh bạch ngân sách mở vượt mốc 65/100 điểm và tối ưu hóa hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công trong giai đoạn hội nhập sâu rộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tài chính công hiện đại kết hợp với lý thuyết phân bổ nguồn lực tối ưu của trường phái kinh tế học vĩ mô. Trọng tâm nghiên cứu xoay quanh mô hình lập ngân sách dựa trên kết quả đầu ra (Performance-Based Budgeting), nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa nguồn lực tài chính đầu vào với các chỉ tiêu định lượng đầu ra. Khung phân tích mở rộng dựa trên các nguyên tắc quản trị tài chính công do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) khởi xướng, trong đó chỉ số phát triển con người (HDI) cùng khảo sát ngân sách mở (Open Budget Survey) từ Tổ chức Hợp tác Ngân sách Quốc tế (IBP) gồm 102 quốc gia được dùng làm thước đo đánh giá tính bền vững và trách nhiệm giải trình.

Hệ thống lý thuyết trong nghiên cứu bao gồm năm khái niệm cốt lõi:

  • Ngân sách Nhà nước: Căn cứ Điều 4 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định.
  • Phân bổ ngân sách Nhà nước: Quá trình phân chia các nguồn lực tài chính công tập trung cho các ngành, lĩnh vực, địa phương và mục tiêu chiến lược theo những định mức và tiêu chí pháp lý xác định.
  • Chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển: Hai cấu phần cơ bản cấu thành tổng chi ngân sách, phản ánh mục đích tiêu dùng công cộng và tích lũy gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
  • Kỷ luật tài khóa tổng thể: Khả năng kiểm soát thâm hụt ngân sách và duy trì mức nợ công trong giới hạn an toàn vĩ mô.
  • Hiệu quả phân bổ nguồn lực (Allocative Efficiency): Mức độ nguồn lực công được phân bổ đúng vào các lĩnh vực có lợi ích kinh tế - xã hội cao nhất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên chuỗi dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Bộ Tài chính Việt Nam, Tổng cục Thống kê (GSO), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc (MOSF) và Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc (NPC) giai đoạn 2007 – 2017.

Về mặt định lượng, luận văn xây dựng mô hình kinh tế lượng với dữ liệu bảng (Panel Data) bao gồm toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2015, tạo thành bộ mẫu tổng thể gồm 441 quan sát cấp địa phương. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm loại bỏ sai số chọn mẫu và phản ánh toàn diện bức tranh tài khóa liên tỉnh.

Nghiên cứu triển khai phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Kiểm định Hausman được thực hiện với mức ý nghĩa thống kê 1% để lựa chọn mô hình phù hợp nhất. Việc lựa chọn mô hình FEM giúp kiểm soát triệt để các yếu tố đặc thù không quan sát được nhưng bất biến theo thời gian của từng địa phương (như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên), từ đó đảm bảo các ước lượng về tác động của phân bổ chi ngân sách tới tăng trưởng kinh tế địa phương đạt độ tin cậy cao và không bị chệch.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng và kinh nghiệm quốc tế mang lại bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, cơ cấu chi ngân sách Nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 có sự phân hóa rõ nét khi tỷ trọng chi thường xuyên duy trì ở mức cao xấp xỉ 62% đến 65% tổng chi ngân sách, tạo áp lực lớn lên cán cân tài khóa. Trong khi đó, chi đầu tư phát triển có xu hướng thu hẹp dần từ mức 28,5% năm 2008 xuống còn khoảng 24,2% năm 2016, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoàn thiện mạng lưới hạ tầng huyết mạch.

Thứ hai, tốc độ tăng phân bổ ngân sách cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo và dạy nghề duy trì ở mức cao từ 14% đến 18%/năm, chiếm xấp xỉ 20% tổng chi ngân sách theo đúng định hướng chiến lược. Tuy nhiên, phân bổ chi ngân sách cho khoa học – công nghệ chỉ dao động ở mức dưới 2% tổng chi ngân sách hàng năm và tốc độ giải ngân thực tế tại một số địa phương chỉ đạt khoảng 70% đến 80% kế hoạch giao, dẫn đến hiệu suất đóng góp vào tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) còn khiêm tốn.

Thứ ba, khảo cứu trường hợp Hàn Quốc cho thấy quốc gia này duy trì thành công thặng dư ngân sách Nhà nước ba năm liên tiếp từ 2015 đến 2017, giữ tỷ lệ nợ công trên GDP ổn định dưới ngưỡng 40%. Thành công này bắt nguồn từ việc tái cơ cấu chi tiêu công tập trung vào tạo việc làm, phát triển công nghệ cao (R&D) chiếm trên 4% GDP và cắt giảm dứt điểm các dự án đầu tư kém hiệu quả thông qua hệ thống đánh giá hiệu suất nghiêm ngặt của Bộ Chiến lược và Tài chính.

Thứ tư, Trung Quốc đã thực hiện cải cách triệt để hệ thống tài khóa sau khi ban hành Luật Ngân sách năm 1994 và các sửa đổi sau đó, chuyển từ cơ chế phân bổ bình quân sang mô hình quản lý ngân sách dựa trên hiệu suất công việc tại cấp địa phương. Điều này giúp kiểm soát thâm hụt ngân sách chính phủ quanh ngưỡng 3% GDP trong giai đoạn 2007 – 2016, đồng thời điều tiết thu nhập qua chính sách an sinh xã hội để thu hẹp chênh lệch vùng miền và cải thiện hệ số bất bình đẳng GINI từ 0,49 năm 2008 xuống mức 0,46 năm 2016.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ ngân sách tại Việt Nam phản ánh điểm nghẽn bắt nguồn từ tư duy lập dự toán "cộng dồn lịch sử", thiếu cơ chế liên kết giữa mục tiêu ưu tiên và nguồn lực tài chính thực tế. Việc phân bổ giữa Ngân sách Trung ương và Ngân sách Địa phương còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố hành chính, dẫn đến tình trạng ỷ lại vào trợ cấp cân đối từ ngân sách cấp trên tại hơn 70% các tỉnh, thành phố.

Trên phương diện trình bày số liệu, mối quan hệ phức tạp này có thể được trực quan hóa qua đồ thị kết hợp dạng cột - đường (như cấu trúc Hình 4.1 và Hình 4.2 trong luận văn), biểu thị độ lệch giữa dự toán và quyết toán chi ngân sách theo từng giai đoạn, đồng thời so sánh tốc độ tăng trưởng chi thường xuyên với tốc độ tăng trưởng kinh tế danh nghĩa. Bên cạnh đó, kết quả hồi quy mô hình FEM từ bộ dữ liệu 63 tỉnh thành được mô tả hiệu quả qua bảng ma trận hệ số tương quan, chứng minh rằng các khoản chi đầu tư hạ tầng có độ trễ tác động tích cực đến GRDP trong vòng 2 đến 3 năm với hệ số ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Những phát hiện này tương đồng với các nghiên cứu của Christine Wong (2007) và James L. Chan về cải cách tài khóa tại các nền kinh tế chuyển đổi, đồng thời củng cố nhận định của các chuyên gia trong nước về sự cần thiết phải gắn phân cấp tài chính với siết chặt kỷ luật tài khóa, khắc phục triệt để tình trạng đầu tư dàn trải và thất thoát nguồn lực.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định lượng và bài học quốc tế, luận văn đưa ra bốn nhóm khuyến nghị giải pháp trọng tâm:

  • Hoàn thiện khung khổ pháp lý và định mức phân bổ ngân sách giai đoạn 2021 – 2025: Quốc hội và Bộ Tài chính cần rà soát, sửa đổi các định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên và chi đầu tư theo hướng giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống dưới mức 58% tổng chi ngân sách Nhà nước, đồng thời nâng tỷ trọng chi đầu tư phát triển lên trên 32% vào năm 2025.
  • Thiết lập mô hình lập ngân sách dựa trên kết quả đầu ra (Performance-Based Budgeting): Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành khung chỉ số đánh giá thực hiện công việc (KPIs) gắn với từng khoản mục chi tiêu công. Đặt mục tiêu từ năm 2023, 100% các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án đầu tư công có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng phải áp dụng bộ tiêu chí đánh giá hiệu suất định lượng trước khi phê duyệt cấp phát vốn.
  • Tái cơ cấu nguồn lực cho giáo dục đại học, dạy nghề và khoa học – công nghệ: Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo chuyển đổi phương thức cấp phát ngân sách từ cào bằng sang cơ chế đấu thầu đề tài và tài trợ theo kết quả chuyển giao ứng dụng. Bảo đảm nguồn chi ngân sách thực chất cho nghiên cứu và phát triển đạt tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hàng năm, nâng tỷ lệ thương mại hóa các đề tài khoa học có nguồn vốn Nhà nước lên trên 40% trước năm 2026.
  • Nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình tài chính công: Kiểm toán Nhà nước và Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tăng cường ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin trong kiểm toán dữ liệu thời gian thực. Đặt mục tiêu nâng điểm số khảo sát Minh bạch Ngân sách Mở (OBI) của Việt Nam từ mức trung bình lên trên 65/100 điểm vào năm 2025 thông qua việc công bố đầy đủ, đúng hạn 8 loại tài liệu ngân sách chủ chốt cho người dân giám sát.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp với bốn nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý và chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính các tỉnh, thành phố: Cung cấp cơ sở lý luận khoa học, phương pháp phân tích thực chứng và các công thức phân bổ tối ưu để ứng dụng trực tiếp vào quá trình xây dựng định mức dự toán ngân sách hàng năm.
  • Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và Kiểm toán viên Nhà nước: Đóng vai trò tài liệu tham chiếu chuyên sâu phục vụ công tác thẩm tra, phê duyệt dự toán ngân sách, giám sát quyết toán chi tiêu công và đánh giá tính minh bạch của các dự án sử dụng vốn ngân sách.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Tài chính công, Kinh tế quốc tế và Quản lý kinh tế: Kế thừa khung lý thuyết hoàn chỉnh, phương pháp xử lý dữ liệu bảng liên tỉnh qua mô hình OLS/FEM/REM và hệ thống tài liệu tham khảo quốc tế phong phú.
  • Chuyên gia phân tích tại các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP): Sử dụng làm nguồn tư liệu nghiên cứu điển hình về quá trình chuyển đổi thể chế tài khóa và cải cách quản lý tài chính công tại một nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á.

Câu hỏi thường gặp

  • Hạn chế lớn nhất trong công tác phân bổ ngân sách Nhà nước tại Việt Nam giai đoạn vừa qua là gì? Điểm hạn chế lớn nhất là phương thức phân bổ vẫn mang nặng tính bình quân, dựa trên số liệu lịch sử của năm trước thay vì dựa trên kết quả đầu ra thực tế. Điều này dẫn đến tình trạng chi thường xuyên chiếm tỷ trọng quá cao trên 60%, nguồn vốn đầu tư công bị phân tán và hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa tương xứng với quy mô ngân sách đã chi ra.

  • Hàn Quốc đã áp dụng kinh nghiệm then chốt nào để đạt được thặng dư ngân sách liên tục? Hàn Quốc tập trung kiểm soát chặt chẽ kỷ luật tài khóa, kiên quyết loại bỏ các dự án đầu tư công không hiệu quả và chuyển dịch mạnh nguồn vốn ngân sách sang các lĩnh vực tạo ra tăng trưởng mới như R&D công nghệ cao (chiếm trên 4% GDP) kết hợp với các chính sách tạo việc làm bền vững để nuôi dưỡng nguồn thu thuế ổn định.

  • Mô hình phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra (PBB) mang lại ưu thế gì so với mô hình truyền thống? Mô hình này gắn trực tiếp nguồn kinh phí được cấp với các chỉ số hiệu suất định lượng (KPIs) và kết quả công việc cụ thể đạt được. Nhờ đó, phương pháp này giúp ngăn chặn lãng phí, nâng cao tính minh bạch, hạn chế cơ chế "xin - cho" và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế - xã hội của từng đồng vốn ngân sách.

  • Tại sao chi ngân sách cho giáo dục và khoa học công nghệ ở Việt Nam chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng? Mặc dù chi giáo dục đạt khoảng 20% tổng chi ngân sách, nhưng phần lớn nguồn vốn (trên 80%) dành cho chi trả lương và phụ cấp thường xuyên, tỷ lệ dành cho nâng cao cơ sở vật chất và đổi mới chương trình còn hạn chế. Đối với khoa học công nghệ, cơ chế giải ngân phức tạp khiến tỷ lệ hấp thụ vốn thấp và thiếu liên kết với nhu cầu thị trường thực tế.

  • Làm cách nào để nâng cao chỉ số Minh bạch Ngân sách Mở (Open Budget Index - OBI) cho Việt Nam? Việt Nam cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý tài chính công, công khai kịp thời 8 báo cáo tài khóa cốt lõi theo tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát dự toán ngân sách.

Kết luận

  • Luận văn đã làm rõ toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phân bổ ngân sách Nhà nước, khẳng định vai trò cốt lõi của quản trị tài khóa trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
  • Đánh giá trung thực bức tranh phân bổ ngân sách tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017 với các bằng chứng định lượng rõ ràng về cơ cấu chi thường xuyên chiếm trên 60% và sự thiếu hụt định mức chi dựa trên kết quả đầu ra.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ mô hình quản trị ngân sách thặng dư của Hàn Quốc và lộ trình cải cách kỷ luật tài khóa phân cấp của Trung Quốc để áp dụng phù hợp vào điều kiện Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá với lộ trình triển khai từ 2021 đến 2026, tập trung vào tái cơ cấu tỷ trọng chi đầu tư trên 32% và thiết lập hệ thống KPIs đánh giá hiệu suất chi tiêu công.
  • Các cơ quan quản lý cần khẩn trương hiện thực hóa mô hình ngân sách dựa trên kết quả đầu ra, xem đây là giải pháp trọng tâm để nâng cao hiệu lực tài chính quốc gia và gia tăng niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp trong kỷ nguyên số.