Tổng quan nghiên cứu

Thị trường chuyển giao công nghệ đóng vai trò hạt nhân trong việc nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại tỉnh Thanh Hóa, quy mô doanh nghiệp đang hoạt động đứng thứ 2 khu vực Bắc Trung Bộ và chiếm khoảng 1,58% tổng số doanh nghiệp cả nước. Tuy nhiên, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó có hơn 60% đơn vị hoạt động với quy mô vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng. Thực trạng này tạo ra rào cản lớn đối với hoạt động đổi mới sáng tạo, khi có tới 62% công nghệ đang sử dụng thuộc nhóm trung bình và lạc hậu, đồng thời 89,5% doanh nghiệp hoàn toàn chưa bố trí nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực khoa học và công nghệ.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng cung - cầu công nghệ, đánh giá vai trò của các thiết chế trung gian và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển thị trường chuyển giao công nghệ cho khối DNVVN tại Thanh Hóa đến năm 2020. Phạm vi không gian được thực hiện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với dữ liệu thực nghiệm xuyên suốt giai đoạn 2010 - 2016, tầm nhìn định hướng đến năm 2020. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nằm ở việc cung cấp luận cứ định lượng giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ hơn 8.000 doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm 6% doanh nghiệp nông nghiệp và các đơn vị sản xuất chế biến, qua đó tối ưu hóa mạng lưới 51 tổ chức khoa học công nghệ hiện có để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết 4 thành phần công nghệ của Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương thuộc Liên Hợp Quốc (UNESCAP), bao gồm: phần kỹ thuật (Technoware) là máy móc thiết bị; phần con người (Humanware) đại diện cho kỹ năng, kinh nghiệm; phần thông tin (Infoware) thể hiện qua dữ liệu, bí quyết; và phần tổ chức (Orgaware) gắn với hoạt động quản lý, vận hành. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết chuyển giao công nghệ và chi phí giao dịch của David J. Teece (1981) cùng mô hình chính sách chuyển giao của Barry Bozeman (2000) nhằm làm rõ sự vận động của hàng hóa công nghệ trên thị trường.

Các khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa theo hệ thống pháp lý Việt Nam, bao gồm: khái niệm công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (Luật số 29/2013/QH13); khái niệm chuyển giao công nghệ theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 (Luật số 07/2017/QH14); và khái niệm thị trường chuyển giao công nghệ - nơi thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa công nghệ thông qua 5 nhóm sản phẩm từ nhãn hiệu, bản quyền đến dây chuyền thiết bị và dịch vụ nghiên cứu phát triển (R&D).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2010 - 2016. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện điều tra khảo sát với cỡ mẫu gồm 131 nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh tính đến tháng 3/2017.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (stratified random sampling) được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm ngành trọng điểm: dịch vụ thương mại, chế biến chế tạo và nông nghiệp. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích định tính và so sánh tỷ lệ phần trăm nhằm bóc tách cấu trúc vốn, thực trạng trang thiết bị và mức độ rủi ro do bất cân xứng thông tin trên thị trường. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ từ khâu xác lập khung lý thuyết, thiết kế phiếu hỏi, xử lý dữ liệu định lượng đến kiểm chứng thực tế nhằm đưa ra các kết luận khách quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trình độ công nghệ của khối DNVVN tại Thanh Hóa ở mức rất thấp khi có tới 62% công nghệ đang vận hành là trung bình và lạc hậu. Đáng chú ý, có tới 89,5% doanh nghiệp chưa từng thực hiện việc đầu tư mở rộng năng lực khoa học công nghệ, và tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp chỉ đạt mức 7%.

Thứ hai, cơ cấu năng lực tài chính và ngành nghề của doanh nghiệp có sự mất cân đối lớn. Toàn tỉnh có gần 8.000 doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong chuỗi cung ứng dịch vụ, lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 6%, và trên 60% tổng số doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng. Mức đầu tư cho đổi mới công nghệ của phần lớn DNVVN rất thấp, thậm chí nhiều đơn vị ghi nhận mức đầu tư bằng 0.

Thứ ba, tiềm năng cung ứng công nghệ tại chỗ chưa được khai thác hiệu quả. Mặc dù Thanh Hóa sở hữu 51 tổ chức khoa học công nghệ (gồm 9 cơ sở giáo dục đại học, 14 tổ chức nghiên cứu và phát triển, 28 tổ chức dịch vụ) và đứng thứ 3 cả nước với 14 doanh nghiệp khoa học công nghệ, tỷ lệ hợp đồng chuyển giao công nghệ thành công giữa các viện, trường với DNVVN vẫn đạt dưới 10%.

Thứ tư, hệ thống tổ chức trung gian môi giới, định giá và giám định công nghệ trên địa bàn tỉnh còn sơ khai, dẫn đến chi phí giao dịch công nghệ tăng cao và gây tâm lý e ngại rủi ro cho cả bên bán lẫn bên mua.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chuyển giao công nghệ yếu kém tại Thanh Hóa xuất phát từ hai nguyên nhân cốt lõi: sự bất cân xứng thông tin giữa bên cung và bên cầu, cùng với năng lực hấp thụ công nghệ hạn chế của các DNVVN. Hàng hóa công nghệ là loại hàng hóa đặc thù, rất khó định lượng giá trị trước khi đưa vào vận hành. Khi thiếu các đơn vị trung gian thẩm định giá độc lập, bên mua luôn đối mặt với rủi ro tài chính cao. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các luận điểm của David J. Teece (1981) và Edwin Mansfield (1980) về rào cản chi phí giao dịch trong thị trường công nghệ.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây của Nguyễn Mạnh An (2016) và Phan Tuấn Anh (2016) cũng khẳng định DNVVN tại khu vực Bắc Trung Bộ gặp trở ngại lớn nhất ở khâu vốn tự có và thiếu thông tin thị trường. Về mặt trình bày học thuật, các dữ liệu này có thể được mô hình hóa hiệu quả qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu vốn của 60% DNVVN dưới 5 tỷ đồng, kết hợp biểu đồ cột so sánh tỷ lệ 62% công nghệ lạc hậu với 7% đăng ký sở hữu công nghiệp, và bảng tổng hợp ma trận phân bố năng lực của 51 tổ chức khoa học công nghệ địa phương theo 4 thành phần THIO.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thành lập và vận hành Trung tâm Hỗ trợ Kỹ thuật và Giao dịch Công nghệ tỉnh Thanh Hóa dưới sự điều phối của Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp cùng Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ giao dịch công nghệ thành công qua sàn tăng từ mức dưới 10% lên tối thiểu 25% trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, triển khai Quỹ Hỗ trợ Đổi mới Công nghệ cấp tỉnh với cơ chế hỗ trợ lãi suất vay vốn 3% - 5%/năm và tài trợ trực tiếp từ 30% đến 50% chi phí chuyển giao công nghệ tiên tiến cho các DNVVN thuộc ngành sản xuất, chế biến và nông nghiệp công nghệ cao. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng Sở Tài chính, hoàn thành ban hành quy chế trước năm 2019.

Thứ ba, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ thông qua việc đào tạo kỹ năng quản trị và thẩm định công nghệ cho tối thiểu 500 lãnh đạo DNVVN. Đơn vị chủ trì là các cơ sở giáo dục đại học phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, triển khai thường niên từ năm 2018 đến năm 2020.

Thứ tư, thể chế hóa mạng lưới liên kết giữa 51 tổ chức khoa học công nghệ với các DNVVN thông qua cơ chế đặt hàng nghiên cứu và thương mại hóa kết quả R&D. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp từ 7% lên 15% vào năm 2020, do các viện nghiên cứu và trường đại học trên địa bàn phối hợp thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư): Tham khảo khung giải pháp chính sách để xây dựng kế hoạch phát triển thị trường khoa học công nghệ địa phương, ban hành các quy chế hỗ trợ vốn và thành lập sàn giao dịch công nghệ.

Nhóm lãnh đạo và nhà quản trị DNVVN: Sử dụng luận văn như tài liệu tham chiếu thực tiễn để nhận diện rủi ro pháp lý, đánh giá 4 thành phần công nghệ (THIO) trước khi ký kết hợp đồng chuyển giao và xây dựng chiến lược đổi mới máy móc thiết bị phù hợp với quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng.

Nhóm tổ chức trung gian và đơn vị tư vấn chuyển giao công nghệ: Áp dụng các mô hình đánh giá năng lực và quy trình thẩm định giá để chuẩn hóa dịch vụ môi giới, xúc tiến thương mại công nghệ (Techmart) và kết nối hiệu quả cung - cầu.

Nhóm nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Kế thừa khung lý thuyết tích hợp liên ngành Quản trị công nghệ và phương pháp khảo sát thực chứng 131 mẫu để mở rộng nghiên cứu sang các địa phương khác trong khu vực Bắc Trung Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phần lớn DNVVN tại Thanh Hóa gặp khó khăn khi đổi mới công nghệ? Khó khăn lớn nhất bắt nguồn từ năng lực tài chính hạn chế khi hơn 60% DNVVN có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và 89,5% đơn vị chưa có quỹ đầu tư khoa học công nghệ. Ngoài ra, sự thiếu hụt thông tin minh bạch về giá cả khiến doanh nghiệp e ngại rủi ro khi đầu tư vào máy móc mới.

Mô hình 4 thành phần công nghệ của UNESCAP được vận dụng thế nào trong luận văn? Nghiên cứu sử dụng mô hình UNESCAP để phân tích đồng bộ 4 yếu tố: Kỹ thuật (máy móc thiết bị), Con người (kỹ năng vận hành), Thông tin (dữ liệu, bí quyết) và Tổ chức (quản trị). Kết quả chỉ ra 62% thiết bị thuộc nhóm lạc hậu và kỹ năng đàm phán hợp đồng của nhân sự còn rất yếu.

Vai trò chính của 51 tổ chức khoa học công nghệ tại Thanh Hóa là gì? Hệ thống 51 tổ chức đóng vai trò là nguồn cung công nghệ sơ cấp và cung cấp dịch vụ phân tích, kiểm định chất lượng. Tuy nhiên, liên kết giữa các đơn vị này với 97% DNVVN còn lỏng lẻo, đòi hỏi phải có các tổ chức trung gian làm cầu nối thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu.

Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 tạo thuận lợi gì cho doanh nghiệp? Luật số 07/2017/QH14 quy định rõ ràng về quyền sở hữu, phương thức góp vốn bằng công nghệ và danh mục khuyến khích chuyển giao. Điều này giúp DNVVN giảm thiểu tranh chấp pháp lý, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và được hưởng các chính sách ưu đãi thuế khi nhập khẩu dây chuyền công nghệ cao.

Giải pháp nào cấp thiết nhất để thúc đẩy thị trường công nghệ Thanh Hóa đến năm 2020? Giải pháp cấp thiết nhất là thành lập sàn giao dịch và trung tâm hỗ trợ kỹ thuật công nghệ cấp tỉnh. Thiết chế này sẽ giải quyết điểm nghẽn bất cân xứng thông tin, cung cấp dịch vụ định giá và hỗ trợ thủ tục pháp lý để nâng tỷ lệ giao dịch thành công lên trên 25%.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thị trường chuyển giao công nghệ dựa trên khung lý thuyết chuẩn hóa của UNESCAP, UNCTAD và các quy định của Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017.
  • Đánh giá chân thực bức tranh thực trạng tại Thanh Hóa: 97% doanh nghiệp là DNVVN, 62% công nghệ ở mức trung bình và lạc hậu, trong khi tỉnh sở hữu tiềm năng lớn với 51 tổ chức khoa học công nghệ và 14 doanh nghiệp khoa học công nghệ.
  • Đóng góp khoa học then chốt là chỉ rõ nút thắt của thị trường nằm ở sự thiếu hụt các tổ chức trung gian có đủ năng lực thẩm định giá, môi giới và giám định chất lượng công nghệ.
  • Xác lập lộ trình 4 nhóm giải pháp đồng bộ đến năm 2020 với các chỉ tiêu định lượng rõ ràng: tăng tỷ lệ giao dịch thành công lên 25% và nâng tỷ lệ đăng ký sở hữu công nghiệp lên 15%.
  • Kêu gọi các cấp lãnh đạo tỉnh, viện nghiên cứu và cộng đồng DNVVN khẩn trương phối hợp triển khai các chính sách hỗ trợ vốn, đào tạo nhân lực và kích hoạt sàn giao dịch công nghệ nhằm bứt phá năng lực cạnh tranh địa phương.