Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất hàng hóa. - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng sản xuất hàng hóa tập trung tại huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh. - Chương 4: Giải pháp nhằm phát triển sản xuất hàng hóa tập trung tại huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA 1. Khái niệm, vị trí, đặc điểm của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế 1. Khái niệm ngành nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành inh tế quan trọng và phức tạp. Nó hông chỉ là một ngành inh tế đơn thuần mà còn là một hệ thống sinh học - ỹ thuật.
Một mặt, cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo những quy luật sinh học nhất định, trong đó con người hông thể ngăn cản quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn những quy luật để có những giải pháp thích hợp với chúng. Mặt hác, quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng. Vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát triển ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông.
Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDPnông nghiệp không lớn, nhưng hối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ hoa học – công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển inh tế – xã hội của đất nước. 6 Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại.
Điều đó nhận thấy vị trị quan trọng của nông nghiệp trong nền inh tế. Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầuvào cho công nghiệp và khu vực thành thị. Nó được thể hiện chủ yếu ởnhững mặt sau: - Nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị.
- hu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quí cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao hả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường. - hu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển inh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì đây là hu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết iệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất hẩu nông sản.
- Ngoài ra, hu vực nông nghiệp là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp.Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là hu vực nông nghiệp. Đặc điểm của ngành nông nghiệp Thứ nhất, Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống, có lịch sử phát triển lâu đời. Do đó, có nhiều đặc điểm trì trệ lạc hậu vẫn còn tồn tại trong sản 7 xuất. Mặc dù, tiến bộ hoa học ỹ thuật, đã áp dụng máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất nhưng nhiều vùng người dân vẫn áp dụng những ỹ thuật cũ để sản xuất, hông muốn thay đổi.
Cần phải cải tạo những đặc điểm hông phù hợp, bảo thủ, trì trệ này để phát triển ngành nông nghiệp. Thứ hai, nông nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho conngười. Thứ ba, phụ thuộc lớn vào điều iện tự nhiên và đất đai. Mỗi địa phương đều có những đặc trưng riêng về đất, hí hậu, địa hình… phù hợp với phát triển sản xuất một số loại nông sản nhất định.
Do đó, sản xuất nông nghiệp là ngành phụ thuộc lớn vào điều iện tự nhiên, hoàn cảnh hách quan hông can thiệp được, do đó mang tính rủi ro cao. Vì vậy, nhà nước cần có những chính sách bảo hiểm để giảm rủi ro trong nông nghiệp. Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người hông thể tăng thêm, theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruống đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể hai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm.
Chính vì thế, trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết iệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm. Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ, một lực lượng lớn lao đông trong ngành nông nghiệp thiếu việc làm theo mùa vụ. Cần đa dạng hóa sản phẩm, thâm canh tăng vụ để vừa hai thác tư liệu lao động, tạo thu nhập và giải quyết tình trạng thất nghiệp mùa vụ. Thứ tư, nông nghiệp là ngành sản xuất đòi hỏi nhiều lao động.
Công việc trong ngành này hông đòi hỏi trình độ cao, việc dễ làm nhưng đòi hỏi 8 nhiều về lao động. Đây cũng là một thuận lợi để giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, thu nhập trong ngành còn thấp nên hiện tượng thiếu việc làm còn nhiều. Hiện lao động trong ngành nông nghiệp còn chiếm một tỉ trọng lớn, cần chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ nhiều hơn nữa.
Trong nông nghiệp cần nâng cấp sang ngành sử dụng nhiều vốn, nâng cao năng suất. Thứ năm, đây là ngành inh tế có quy mô lớn, chiếm tỷ trọng về giá trị sản xuất trong tổng nền inh tế cao tuy nhiên tỷ trọng lao động và sản phẩm có xu hướng giảm trong quá trình phát triển. Vai trò, đặc điểm của hoạt động sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung 1. Khái niệm sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản xã hội sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, hai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Vai trò của sản xuất nông nghiệp 1. Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực - thực phẩm cho xã hội đại bộ phận là sản phẩm nuôi sống con người và không có một ngành sản xuất nào thay thế được. Khi xã hội càng phát triển đời sống con người được nâng cao thì nhu cầu về lương thực-thực phẩm tăng về số lượng và chất lượng, chủng loại do 2 yếu tố sau: - Thứ nhất là do sự tăng lên hông ngừng của dân số - Thứ hai là do sự tăng lên của nhu cầu bản thân con người. Do vậy, chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó.
Hàng năm, trên toàn thế giới, với sự ổn định khoảng 300 triệu hộ nông dân đã đóng góp, giữ vai trò là lực 9 lượng chủ đạo trong nền nông nghiệp toàn cầu. Sản xuất ra khoảng trên 2000 triệu tấn lương thực; trên 200 triệu tấn hạn có dầu và khoảng 1000 triệu tấn thịt, sữa, trứng,hàng tỷ ra, quả cung cấp cho gần 7 tỷ người. Ở nước ta với trên 11 triệu hộ nông dân, hàng năm đã tạo ra một khối lượng nông sản thực phẩm lớn không những đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân cả nước mà còn vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất trên thế giới. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá.
Là đơn vị kinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất và quá trình sản xuất. Với quy mô nhỏ hộ sản xuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không còn khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định. Mặt khác với mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện chế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất đến một hình thức phát triển cao hơn. Do đó, inh tế hộ sản xuất có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầu của thị trường, từ đó có hả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã hội.
Hộ sản xuất cũng là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta phát triển cao hơn. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hộ gia đình sản xuất hàng hoá đã mạnh dạn đầu tư, tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp sang sản xuất tập trung với quy mô hàng hoá nông sản không ngừng tăng lên.