CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Chương này trình bày tổng quan về đối tượng và công cụ nghiên cứu trong luận án, bao gồm các vấn đề liên quan đến quản lý chất thải rắn như: 1) chất thải rắn từ các ngành kinh tế của Việt Nam, 2) hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn, 3) các chiến lược và chính sách pháp luật liên quan đến quản lý chất thải rắn, và 4) các kinh nghiệm quốc tế trong vấn đề quản lý chất thải rắn. Các công cụ được sử dụng hiện nay ở trên thế giới và Việt Nam về kiểm kê, đánh giá vòng đời như LCA (Life Cycle Assessment), IWM (Integrated Waste Management), MFA (Material Flow Analysis), IO (Input-Output table). Quản lý chất thải rắn 1.
Chất thải rắn từ các ngành kinh tế của Việt Nam 1. Tình hình phát sinh chất thải rắn từ một số ngành kinh tế của Việt Nam a. Sơ lược về các ngành kinh tế liên quan tới phát sinh CTR Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam được phân thành 21 nhóm ngành và chia thành 5 cấp (từ cấp 1 đến cấp 5) theo quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06 tháng 07 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam. - Ngành cấp 1 gồm 21 ngành được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U - Ngành cấp 2 gồm 88 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo từng ngành cấp 1 tương ứng - Ngành cấp 3 gồm 242 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từng ngành cấp 2 tương ứng - Ngành cấp 4 gồm 486 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng - Ngành cấp 5 gồm 734 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo từng ngành cấp 4 tương ứng Tương ứng với danh mục các ngành kinh tế, danh mục các ngành sản phẩm cũng đã được ban hành theo quyết định số 39/2010/ QĐ-TTg ngày 11 tháng 05 năm 2010, gồm cấp 7 cấp như sau: - Cấp 1 gồm 21 ngành sản phẩm được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U - Cấp 2 gồm 88 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo từng ngành cấp 1 tương ứng luan an 6 - Cấp 3 gồm 234 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từng ngành cấp 2 tương ứng - Cấp 4 gồm 411 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng - Cấp 5 gồm 587 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo từng ngành cấp 4 tương ứng - Cấp 6 gồm 1406 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng sáu số theo từng ngành cấp 5 tương ứng - Cấp 7 gồm 2898 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng bảy số theo từng ngành cấp 6 tương ứng Do đặc điểm đặc trưng của các ngành kinh tế sẽ tạo ra các sản phẩm khác nhau, kéo theo đó là sự phát sinh chất thải rắn (lượng phát sinh, nguồn gốc và thành phần chất thải rắn) cũng sẽ khác nhau và mang tính đặc thù theo ngành.
Tình hình phát sinh chất thải rắn từ một số ngành kinh tế Ngành nông nghiệp Chất thải rắn nông nghiệp phát sinh chủ yếu từ hoạt động trồng trọt và chăn nuôi. Thành phần chất thải rắn của hoạt động trồng trọt chủ yếu là các phụ phẩm nông nghiệp như rơm, rạ, thân cây, vỏ củ quả sau sơ chế, vỏ bao bì hóa chất …, hoạt động chăn nuôi có thành phần chất thải rắn bao gồm phân và các chất độn chuồng, thức ăn thừa, xác gia súc, gia cầm, chất thải lò mổ. Mặc dù các chất thải nông nghiệp đa phần có khả năng tự phân hủy tốt hơn so với những loại chất thải rắn khác. Tuy nhiên, lượng chất thải rắn của ngành này lại tương đối lớn, ước tính mỗi năm khu vực nông thôn phát sinh 76 triệu tấn rơm rạ, 136,4 triệu tấn chất thải chăn nuôi [11], và bên cạnh đó là hơn 14.000 tấn bao bì hóa chất BVTV [12].
Trong sản xuất lúa, bên cạnh rơm rạ và phế phụ phẩm nông nghiệp thì bình quân một ha canh tác lúa sẽ phát thải 12,8 kg chất thải rắn, trong đó bao gồm nhựa (75,8%), thủy tinh và kim loại (21,9%), nylon (1,7%), giấy (0,6%)[13]. Do đó cần có biện pháp quản lý tốt hơn để tận thu lại phụ phẩm nông nghiệp cũng như hạn chế phát thải bao bì nông nghiệp ra môi trường. Khai thác khoáng sản Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động khai thác khoáng sản thường có khối lượng rất lớn và hầu hết chưa được thống kê trong tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh. luan an 7 Khai thác than: CTR từ hoạt động khai thác than chủ yếu là từ hoạt động khai thác bóc đất mở vỉa, hoạt động giao thông vận tải và hoạt động chế biến tuyển than.
Với hai loại hình khai thác than là lộ thiên và hầm lò, toàn bộ phần đất bóc tại khu vực khai thác trở thành CTR và lượng phát sinh phụ thuộc vào cấu tạo địa chất từng vùng cũng như công nghệ khai thác. Theo báo cáo Hiện trạng Môi trường quốc gia năm 2018 về CTR, trích nguồn kế hoạch phát triển ngành công nghiệp than năm 2025 xác định hệ số bóc đất trong khai thác than là 5,9 – 10,2 m3/tấn than [11],[14]. Khai thác khoáng sản khác: Tỷ lệ bóc đất cao là vấn đề lớn trong hoạt động khai thác khoáng sản nói chung. Trong lĩnh vực khai thác bô xít, lượng quặng chất thải và bùn đỏ thải ra từ dự án nhà máy Alumin Nhân Cơ ước tính trên 11 triệu m3/năm.
Khối lượng bùn đỏ thải ra từ nhà máy Alumin Tân Rai dự kiến khoảng 80 – 90 triệu m3 trong thời gian vận hành dự án [11],[14]. Trong khai thác tại mỏ Apatit Lào Cai có hệ số bóc đất là 2,5, lượng đất đá thải mỗi năm khoảng 3 triệu tấn [11]. Chế biến khoáng sản: Bên cạnh đất đá thải thì quặng đuôi cũng là CTR sinh ra từ quá trình chế biến khoáng sản bao gồm các loại quặng đuôi kim loại, quặng đuôi cát (chất thải của quá trình khai khoáng cát nặng chủ yếu gồm silicat và khoáng sét hữu cơ) và chất thải thô (phần thô của chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất quặng kim loại màu và kim loại đen như quặng Fe, Pb, Zn, Cu, Ni, Sn.) Ngành nhiệt điện Hoạt động phát triển năng lượng của Việt Nam tập trung vào các ngành dầu khí, than đá và điện lực. Theo thống kê của Bộ Công Thương, chỉ riêng lượng tro xỉ tích lũy của các nhà máy nhiệt điện của Việt Nam năm 2016 là 23 triệu tấn, dự kiến 2018 là 61 triệu tấn, đến 2020 là 109 triệu tấn, đến 2025 là 248 triệu tấn và đến 2030 là 422 triệu tấn [11].
Chất thải rắn phát thải từ nhà máy nhiệt điện chủ yếu là tro, xỉ than (đốt than), và cặn dầu (đốt dầu). Lượng xỉ than thường có khối lượng lớn và trong thành phần xỉ than có nhiều tạp chất ô nhiễm. Tỷ lệ CTR (tro xỉ) do sử dụng than trong lĩnh vực nhiệt điện dao động trong khoảng 30 – 40% trên lượng than sử dụng, tương đương với độ tro của than cám là 26 – 45% [14]. Việc chuẩn bị quỹ đất để làm bãi chứa chất thải là một thách thức lớn, do đó cần phải có giải pháp tái chế tro xỉ hiệu quả trong thời gian tới.
Ngành sản xuất thép Ngành thép là ngành công nghiệp cơ bản của nước ta trong quá trình công nghiệp hóa. Năm 2018, tổng các loại sản phẩm thép mà các doanh nghiệp là thành luan an 8 viên của hiệp hội thép Việt Nam sản xuất đạt 12,7 triệu tấn. Lượng than, dầu, điện mà ngành thép tiêu thụ chiếm khoảng 6% tổng tiêu thụ năng lượng của các ngành công nghiệp. Quá trình sản xuất thép sẽ thải ra môi trường một lượng lớn CTR, theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì tính trung bình để sản xuất ra một tấn thép sẽ phát sinh khoảng 142 kg CTR bao gồm xỉ than và bụi có lẫn kim loại nặng [15].
Ngành công nghiệp rượu, bia, giải khát Ngành công nghiệp này hiện nay đã và đang tạo ra một lượng chất thải rắn tương đối lớn. Tổng lượng CTR ước tính phát sinh trong hoạt động sản xuất bia là khoảng 26.981 tấn/năm (2000-2005) và tăng lên là 41. Thành phần chất thải rắn phát sinh của ngành này bao gồm chất thải rắn vô cơ (bao bì, chất trợ lọc, thủy tinh, vỏ lon hỏng) chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 16,5%, chất thải rắn hữu cơ (bã bia, bã hublong…) chiếm tỷ lệ cao hơn khoảng 83,5% [14]. Ngành xây dựng Ngành xây dựng với mức tăng trưởng năm 2017 là 8,7% và giữ vững được nhịp tăng trưởng trong những năm gần đây.
Diện tích bình quân nhà ở toàn quốc đạt khoảng 22,8m2sàn/người. Các hoạt động đào, lấp đất, phá dỡ công trình, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển thường gây phát tán bụi ra môi trường xung quanh. Khối lượng CTR xây dựng của một số đô thị lớn trong giai đoạn 2011-2015 dao động từ 87 – 500 tấn/ngày [11]. Ngành giấy Ngành giấy là ngành cần sử dụng nhiều nguyên liệu và nhiên liệu cho quá trình sản xuất.
Chất thải rắn của ngành giấy cũng rất đa dạng bao gồm đinh, ghim, băng dính, giấy phế liệu, xỉ than của lò hơi…Tùy vào đặc điểm sản xuất của mỗi loại sản phẩm giấy mà có sự phát thải chất thải rắn khác nhau, thông thường các sản phẩm giấy sử dụng nhiều giấy phế liệu hoặc có nhiều công đoạn gia công trong quá trình tạo sản phẩm (hộp carton) thường phát sinh chất thải rắn cao hơn so với các sản phẩm giấy mà quá trình sản xuất có ít công đoạn gia công (giấy viết). Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Kim Chi và cộng sự năm 2004 về sản xuất giấy tại các làng nghề, quá trình sản xuất giấy phát thải trung bình 212,06 kg CTR/tấn sản phẩm giấy, trong đó bột giấy và giấy vụn chiếm 81,80 kg; xỉ than là 76,5kg; đinh ghim, ni lông là 53,76 kg [16]. Đến nay, với công nghệ và kĩ thuật sản xuất giấy tại các nhà máy giấy đã được hiện đại hóa hơn, và nhiều doanh nghiệp đã áp dụng biện luan an 9 pháp sản xuất sạch hơn nên sự phát sinh CTR trong sản xuất giấy cũng giảm đi so với thời gian trước và so với sản xuất giấy tại các hộ ở làng nghề. Kết quả chất thải rắn của tác giả Phùng Chí Sỹ thực hiện tại các nhà máy giấy ở Bình Dương năm 2015 cho thấy CTR phát thải từ sản xuất giấy trung bình là 122,41 kg/tấn giấy [17].