Luận Án Tiến Sĩ Về Phân Tích Dòng Chất Thải Rắn Từ Các Ngành Kinh Tế Việt Nam Sử Dụng Mô Hình IO

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô hình IO trong phân tích dòng chất thải rắn từ các ngành kinh tế Việt Nam, góp phần bảo vệ môi trường.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

218
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Sự cần thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp luận nghiên cứu

2.2. Thu thập dữ liệu

2.3. Mô hình IO

2.3.1. Cấu trúc mô hình IO

2.3.2. Phương pháp cập nhật IO

2.3.3. Kỹ thuật gộp ngành trong mô hình IO

2.3.4. Kỹ thuật khai thác IO trong phân tích mối quan hệ liên ngành

2.3.5. Kỹ thuật khai thác IO trong phân tích dòng chất thải rắn

2.4. Xác định nhu cầu trung gian

2.5. Xác định lượng chất thải rắn phát sinh của các ngành kinh tế

2.6. Xác định lượng thu gom chất thải rắn từ các ngành kinh tế

2.7. Phân tích kiểm kê vòng đời (LCI)

2.7.1. Xác định mục tiêu và phạm vi phân tích

2.7.2. Thu thập dữ liệu

2.7.3. Khảo sát tại các nhà máy, làng nghề

2.7.4. Khảo sát tại bãi chôn lấp

2.7.5. Kiểm kê phát thải

2.7.6. Diễn giải kết quả

2.8. Tích hợp IO và LCI trong phân tích dòng chất thải rắn điển hình

2.9. Phương pháp đề xuất giải pháp quản lý chất thải hiệu quả về tài nguyên

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Mối quan hệ kinh tế liên ngành từ các ngành kinh tế của Việt Nam

3.2. Phân tích liên kết xuôi, liên kết ngược của các ngành kinh tế

3.3. Phát triển một số ngành kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2007-2018

3.4. Dòng chất thải từ một số ngành sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam

3.5. Lượng chất thải rắn phát sinh từ các ngành sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam

3.6. Kết quả lựa chọn hệ số phát sinh chất thải rắn

3.7. Lượng chất thải rắn phát sinh từ các ngành sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam năm 2018

3.8. Lượng chất thải rắn được thu gom của các ngành sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam

3.9. Suất thu gom chất thải rắn của các ngành sản xuất và tiêu dùng

3.10. Lượng thu gom chất thải rắn của các ngành kinh tế

3.11. Nghiên cứu điển hình dòng chất thải của ngành giấy và ngành nhựa

3.11.1. Đặc điểm ngành nhựa

3.11.2. Hiện trạng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm nhựa

3.11.3. Hệ số phát sinh chất thải rắn và khí nhà kính của sản phẩm nhựa

3.11.4. Phát thải trực tiếp và gián tiếp trong vòng đời sản phẩm nhựa

3.11.5. Dòng vật liệu trong chu trình của ngành nhựa

3.11.6. Đặc điểm ngành giấy

3.11.7. Hiện trạng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm giấy

3.11.8. Hệ số phát sinh chất thải rắn và khí nhà kính của sản phẩm giấy

3.11.9. Phát thải trực tiếp và gián tiếp trong vòng đời sản phẩm giấy

3.11.10. Dòng vật liệu trong chu trình của ngành giấy

3.12. Đề xuất giải pháp quản lý chất thải hiệu quả về tài nguyên

3.12.1. Cơ sở đề xuất các giải pháp

3.12.2. Quản lý chất thải theo đối tượng tiêu dùng, dòng vật liệu, dòng sản phẩm

3.12.2.1. Quản lý chất thải theo đối tượng tiêu dùng
3.12.2.2. Quản lý chất thải theo dòng vật liệu
3.12.2.3. Quản lý chất thải theo dòng sản phẩm

3.12.3. Đẩy mạnh thu hồi vật liệu

3.12.4. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích dòng chất thải rắn từ các ngành kinh tế của Việt Nam thông qua mô hình IO (Input-Output). Sự cần thiết của đề tài xuất phát từ việc chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế từ tuyến tính sang tuần hoàn, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường Việt Nam. Mô hình IO cho phép xác định mối quan hệ giữa các ngành và lượng chất thải phát sinh, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Tầm quan trọng của việc phân tích chất thải

Việc phân tích dòng chất thải là cần thiết để hiểu rõ hơn về tác động môi trường của các ngành kinh tế. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc quản lý chất thải hiệu quả có thể giúp giảm thiểu ô nhiễm và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Mô hình IO cung cấp một cái nhìn tổng thể về mối liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng, từ đó giúp xác định các điểm nóng trong quản lý chất thải.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mô hình IO để phân tích dòng chất thải rắn từ các ngành kinh tế. Phương pháp này cho phép xác định lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Dữ liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau, bao gồm các báo cáo thống kê và khảo sát thực địa. Mô hình IO được cập nhật để phản ánh chính xác tình hình hiện tại của các ngành kinh tế Việt Nam.

2.1. Cấu trúc mô hình IO

Mô hình IO được xây dựng dựa trên bảng cân đối vào-ra, cho phép phân tích mối quan hệ giữa các ngành. Cấu trúc của mô hình bao gồm các yếu tố như tiêu dùng, sản xuất và thu nhập. Việc áp dụng mô hình này giúp xác định lượng chất thải rắn phát sinh từ từng ngành, từ đó đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng dòng chất thải rắn từ các ngành kinh tế Việt Nam có sự biến động lớn. Ngành công nghiệp và nông nghiệp là hai nguồn phát thải chính. Phân tích cho thấy rằng việc áp dụng mô hình IO giúp xác định rõ hơn về lượng chất thải phát sinh và mối liên kết giữa các ngành. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chính sách quản lý chất thải hiệu quả.

3.1. Phân tích dòng chất thải từ ngành công nghiệp

Ngành công nghiệp đóng góp một lượng lớn vào dòng chất thải rắn. Các sản phẩm nhựa và giấy là những nguồn phát thải chính. Việc áp dụng mô hình IO cho phép phân tích chi tiết về lượng chất thải phát sinh từ từng sản phẩm, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả hơn.

IV. Đề xuất giải pháp quản lý

Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải hiệu quả. Các giải pháp này bao gồm việc tăng cường thu hồi và tái chế chất thải, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về chất thải, và phát triển các chính sách khuyến khích sử dụng tài nguyên bền vững. Việc áp dụng các giải pháp này sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

4.1. Quản lý chất thải theo dòng sản phẩm

Quản lý chất thải theo dòng sản phẩm là một trong những giải pháp quan trọng. Điều này bao gồm việc theo dõi và kiểm soát lượng chất thải phát sinh từ từng sản phẩm, từ đó đưa ra các biện pháp giảm thiểu hiệu quả. Việc áp dụng mô hình IO trong quản lý chất thải sẽ giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về tình hình chất thải trong nền kinh tế.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Chương này trình bày tổng quan về đối tượng và công cụ nghiên cứu trong luận án, bao gồm các vấn đề liên quan đến quản lý chất thải rắn như: 1) chất thải rắn từ các ngành kinh tế của Việt Nam, 2) hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn, 3) các chiến lược và chính sách pháp luật liên quan đến quản lý chất thải rắn, và 4) các kinh nghiệm quốc tế trong vấn đề quản lý chất thải rắn. Các công cụ được sử dụng hiện nay ở trên thế giới và Việt Nam về kiểm kê, đánh giá vòng đời như LCA (Life Cycle Assessment), IWM (Integrated Waste Management), MFA (Material Flow Analysis), IO (Input-Output table). Quản lý chất thải rắn 1.

Chất thải rắn từ các ngành kinh tế của Việt Nam 1. Tình hình phát sinh chất thải rắn từ một số ngành kinh tế của Việt Nam a. Sơ lược về các ngành kinh tế liên quan tới phát sinh CTR Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam được phân thành 21 nhóm ngành và chia thành 5 cấp (từ cấp 1 đến cấp 5) theo quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06 tháng 07 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam. - Ngành cấp 1 gồm 21 ngành được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U - Ngành cấp 2 gồm 88 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo từng ngành cấp 1 tương ứng - Ngành cấp 3 gồm 242 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từng ngành cấp 2 tương ứng - Ngành cấp 4 gồm 486 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng - Ngành cấp 5 gồm 734 ngành; mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo từng ngành cấp 4 tương ứng Tương ứng với danh mục các ngành kinh tế, danh mục các ngành sản phẩm cũng đã được ban hành theo quyết định số 39/2010/ QĐ-TTg ngày 11 tháng 05 năm 2010, gồm cấp 7 cấp như sau: - Cấp 1 gồm 21 ngành sản phẩm được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U - Cấp 2 gồm 88 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo từng ngành cấp 1 tương ứng luan an 6 - Cấp 3 gồm 234 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từng ngành cấp 2 tương ứng - Cấp 4 gồm 411 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng - Cấp 5 gồm 587 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo từng ngành cấp 4 tương ứng - Cấp 6 gồm 1406 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng sáu số theo từng ngành cấp 5 tương ứng - Cấp 7 gồm 2898 ngành sản phẩm, mỗi ngành được mã hóa bằng bảy số theo từng ngành cấp 6 tương ứng Do đặc điểm đặc trưng của các ngành kinh tế sẽ tạo ra các sản phẩm khác nhau, kéo theo đó là sự phát sinh chất thải rắn (lượng phát sinh, nguồn gốc và thành phần chất thải rắn) cũng sẽ khác nhau và mang tính đặc thù theo ngành.

Tình hình phát sinh chất thải rắn từ một số ngành kinh tế  Ngành nông nghiệp Chất thải rắn nông nghiệp phát sinh chủ yếu từ hoạt động trồng trọt và chăn nuôi. Thành phần chất thải rắn của hoạt động trồng trọt chủ yếu là các phụ phẩm nông nghiệp như rơm, rạ, thân cây, vỏ củ quả sau sơ chế, vỏ bao bì hóa chất …, hoạt động chăn nuôi có thành phần chất thải rắn bao gồm phân và các chất độn chuồng, thức ăn thừa, xác gia súc, gia cầm, chất thải lò mổ. Mặc dù các chất thải nông nghiệp đa phần có khả năng tự phân hủy tốt hơn so với những loại chất thải rắn khác. Tuy nhiên, lượng chất thải rắn của ngành này lại tương đối lớn, ước tính mỗi năm khu vực nông thôn phát sinh 76 triệu tấn rơm rạ, 136,4 triệu tấn chất thải chăn nuôi [11], và bên cạnh đó là hơn 14.000 tấn bao bì hóa chất BVTV [12].

Trong sản xuất lúa, bên cạnh rơm rạ và phế phụ phẩm nông nghiệp thì bình quân một ha canh tác lúa sẽ phát thải 12,8 kg chất thải rắn, trong đó bao gồm nhựa (75,8%), thủy tinh và kim loại (21,9%), nylon (1,7%), giấy (0,6%)[13]. Do đó cần có biện pháp quản lý tốt hơn để tận thu lại phụ phẩm nông nghiệp cũng như hạn chế phát thải bao bì nông nghiệp ra môi trường.  Khai thác khoáng sản Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động khai thác khoáng sản thường có khối lượng rất lớn và hầu hết chưa được thống kê trong tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh. luan an 7 Khai thác than: CTR từ hoạt động khai thác than chủ yếu là từ hoạt động khai thác bóc đất mở vỉa, hoạt động giao thông vận tải và hoạt động chế biến tuyển than.

Với hai loại hình khai thác than là lộ thiên và hầm lò, toàn bộ phần đất bóc tại khu vực khai thác trở thành CTR và lượng phát sinh phụ thuộc vào cấu tạo địa chất từng vùng cũng như công nghệ khai thác. Theo báo cáo Hiện trạng Môi trường quốc gia năm 2018 về CTR, trích nguồn kế hoạch phát triển ngành công nghiệp than năm 2025 xác định hệ số bóc đất trong khai thác than là 5,9 – 10,2 m3/tấn than [11],[14]. Khai thác khoáng sản khác: Tỷ lệ bóc đất cao là vấn đề lớn trong hoạt động khai thác khoáng sản nói chung. Trong lĩnh vực khai thác bô xít, lượng quặng chất thải và bùn đỏ thải ra từ dự án nhà máy Alumin Nhân Cơ ước tính trên 11 triệu m3/năm.

Khối lượng bùn đỏ thải ra từ nhà máy Alumin Tân Rai dự kiến khoảng 80 – 90 triệu m3 trong thời gian vận hành dự án [11],[14]. Trong khai thác tại mỏ Apatit Lào Cai có hệ số bóc đất là 2,5, lượng đất đá thải mỗi năm khoảng 3 triệu tấn [11]. Chế biến khoáng sản: Bên cạnh đất đá thải thì quặng đuôi cũng là CTR sinh ra từ quá trình chế biến khoáng sản bao gồm các loại quặng đuôi kim loại, quặng đuôi cát (chất thải của quá trình khai khoáng cát nặng chủ yếu gồm silicat và khoáng sét hữu cơ) và chất thải thô (phần thô của chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất quặng kim loại màu và kim loại đen như quặng Fe, Pb, Zn, Cu, Ni, Sn.)  Ngành nhiệt điện Hoạt động phát triển năng lượng của Việt Nam tập trung vào các ngành dầu khí, than đá và điện lực. Theo thống kê của Bộ Công Thương, chỉ riêng lượng tro xỉ tích lũy của các nhà máy nhiệt điện của Việt Nam năm 2016 là 23 triệu tấn, dự kiến 2018 là 61 triệu tấn, đến 2020 là 109 triệu tấn, đến 2025 là 248 triệu tấn và đến 2030 là 422 triệu tấn [11].

Chất thải rắn phát thải từ nhà máy nhiệt điện chủ yếu là tro, xỉ than (đốt than), và cặn dầu (đốt dầu). Lượng xỉ than thường có khối lượng lớn và trong thành phần xỉ than có nhiều tạp chất ô nhiễm. Tỷ lệ CTR (tro xỉ) do sử dụng than trong lĩnh vực nhiệt điện dao động trong khoảng 30 – 40% trên lượng than sử dụng, tương đương với độ tro của than cám là 26 – 45% [14]. Việc chuẩn bị quỹ đất để làm bãi chứa chất thải là một thách thức lớn, do đó cần phải có giải pháp tái chế tro xỉ hiệu quả trong thời gian tới.

 Ngành sản xuất thép Ngành thép là ngành công nghiệp cơ bản của nước ta trong quá trình công nghiệp hóa. Năm 2018, tổng các loại sản phẩm thép mà các doanh nghiệp là thành luan an 8 viên của hiệp hội thép Việt Nam sản xuất đạt 12,7 triệu tấn. Lượng than, dầu, điện mà ngành thép tiêu thụ chiếm khoảng 6% tổng tiêu thụ năng lượng của các ngành công nghiệp. Quá trình sản xuất thép sẽ thải ra môi trường một lượng lớn CTR, theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì tính trung bình để sản xuất ra một tấn thép sẽ phát sinh khoảng 142 kg CTR bao gồm xỉ than và bụi có lẫn kim loại nặng [15].

 Ngành công nghiệp rượu, bia, giải khát Ngành công nghiệp này hiện nay đã và đang tạo ra một lượng chất thải rắn tương đối lớn. Tổng lượng CTR ước tính phát sinh trong hoạt động sản xuất bia là khoảng 26.981 tấn/năm (2000-2005) và tăng lên là 41. Thành phần chất thải rắn phát sinh của ngành này bao gồm chất thải rắn vô cơ (bao bì, chất trợ lọc, thủy tinh, vỏ lon hỏng) chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 16,5%, chất thải rắn hữu cơ (bã bia, bã hublong…) chiếm tỷ lệ cao hơn khoảng 83,5% [14].  Ngành xây dựng Ngành xây dựng với mức tăng trưởng năm 2017 là 8,7% và giữ vững được nhịp tăng trưởng trong những năm gần đây.

Diện tích bình quân nhà ở toàn quốc đạt khoảng 22,8m2sàn/người. Các hoạt động đào, lấp đất, phá dỡ công trình, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển thường gây phát tán bụi ra môi trường xung quanh. Khối lượng CTR xây dựng của một số đô thị lớn trong giai đoạn 2011-2015 dao động từ 87 – 500 tấn/ngày [11].  Ngành giấy Ngành giấy là ngành cần sử dụng nhiều nguyên liệu và nhiên liệu cho quá trình sản xuất.

Chất thải rắn của ngành giấy cũng rất đa dạng bao gồm đinh, ghim, băng dính, giấy phế liệu, xỉ than của lò hơi…Tùy vào đặc điểm sản xuất của mỗi loại sản phẩm giấy mà có sự phát thải chất thải rắn khác nhau, thông thường các sản phẩm giấy sử dụng nhiều giấy phế liệu hoặc có nhiều công đoạn gia công trong quá trình tạo sản phẩm (hộp carton) thường phát sinh chất thải rắn cao hơn so với các sản phẩm giấy mà quá trình sản xuất có ít công đoạn gia công (giấy viết). Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Kim Chi và cộng sự năm 2004 về sản xuất giấy tại các làng nghề, quá trình sản xuất giấy phát thải trung bình 212,06 kg CTR/tấn sản phẩm giấy, trong đó bột giấy và giấy vụn chiếm 81,80 kg; xỉ than là 76,5kg; đinh ghim, ni lông là 53,76 kg [16]. Đến nay, với công nghệ và kĩ thuật sản xuất giấy tại các nhà máy giấy đã được hiện đại hóa hơn, và nhiều doanh nghiệp đã áp dụng biện luan an 9 pháp sản xuất sạch hơn nên sự phát sinh CTR trong sản xuất giấy cũng giảm đi so với thời gian trước và so với sản xuất giấy tại các hộ ở làng nghề. Kết quả chất thải rắn của tác giả Phùng Chí Sỹ thực hiện tại các nhà máy giấy ở Bình Dương năm 2015 cho thấy CTR phát thải từ sản xuất giấy trung bình là 122,41 kg/tấn giấy [17].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Tạ Thị Yến, mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ Về Phân Tích Dòng Chất Thải Rắn Từ Các Ngành Kinh Tế Việt Nam Sử Dụng Mô Hình IO", được thực hiện tại Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội vào năm 2021, tập trung vào việc phân tích dòng chất thải rắn từ các ngành kinh tế Việt Nam thông qua mô hình Input-Output (IO). Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý chất thải rắn mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả trong việc xử lý và tái chế chất thải, từ đó góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý xây dựng và chất lượng trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi đề cập đến tổ chức đấu thầu và quản lý hợp đồng trong xây dựng, và Luận văn thạc sĩ về quản trị chất lượng tại công ty nhựa đường Petrolimex, nghiên cứu về quản trị chất lượng trong ngành công nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý chất thải và chất lượng trong các ngành kinh tế.