lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển đổi các hình thức FDI. Chƣơng 2: Thực trạng chuyển đổi các hình thức FDI ở Việt Nam. Chƣơng 3: Một số giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả chuyển đổi FDI ở nƣớc ta. 11 z CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYỂN ĐỔI CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 1.
Khái niệm về hình thức FDI và chuyển đổi các hình thức FDI Đầu tƣ quốc tế đƣợc hiểu là sự di chuyển tài sản nhƣ vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý…từ nƣớc này sang nƣớc khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận”1. Đầu tƣ quốc tế đƣợc biểu hiện qua các hình thức cơ bản là đầu tƣ nƣớc ngoài gián tiếp (PFI – Portfolio Investment), đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp (FDI – Foreign Direct Investment) và một số nguồn vốn nƣớc ngoài khác. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đầu tƣ trực tiếp, theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì “Đầu tƣ trực tiếp nhằm đạt đƣợc quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế nhà đầu tƣ”. Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam thì đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này2.
Dù hiểu theo cách định nghĩa nào thì nguồn vốn FDI cũng mang những đặc điểm sau: - Chủ đầu tƣ là ngƣời nƣớc ngoài, vốn di chuyển qua khỏi biên giới quốc gia. - Chủ đầu tƣ tham gia quản lý trực tiếp hoạt động đầu tƣ, tự quyết định kinh doanh và hƣởng lợi nhuận từ hoạt động đầu tƣ. Nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc đánh giá là có vai trò hết sức quan trọng bởi khi FDI vào một quốc gia thì không chỉ có sự lƣu chuyển vốn mà còn thƣờng đi kèm công nghệ, kiến thức kinh doanh và gắn với mạng lƣới phân phối rộng lớn trên phạm vi toàn cầu. 1 Giáo trình Đầu tư quốc tế, Phùng Xuân Nhạ, Nhà Xuất Bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 2 Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996 và trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài ngày 09/6/2000 (Điều 2, khoản 1) 12 z Đối với các nƣớc nhận đầu tƣ đặc biệt các nƣớc đang phát triển thì FDI tỏ ra có ƣu thế do hình thức này mang lại hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ cho nền kinh tế.
FDI tạo điều kiện cho nƣớc sở tại có thể khai thác tốt lợi thế so sánh của mình, là nguồn vốn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu của nƣớc sở tại. FDI đƣợc thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tƣ mới (Greenfield Investment – GI) và sáp nhập và mua lại (M&A). Đầu tƣ mới là hình thức các chủ đầu tƣ thực hiện đầu tƣ ở nƣớc ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tƣ truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tƣ ở các nƣớc phát triển đầu tƣ vào các nƣớc đang phát triển.
Ngƣợc lại, kênh M&A là hình thức các chủ đầu tƣ tiến hành đầu tƣ thông qua việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp hiện có ở nƣớc ngoài. Kênh đầu tƣ này chủ yếu đƣợc thực hiện ở các nƣớc phát triển, các nƣớc mới công nghiệp hóa và trong những năm gần đây đã trở nên tƣơng đối phổ biến ở một số nƣớc đang phát triển. Hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc hiểu là cách thức nhà đầu tƣ ở một nƣớc có thể và đƣợc phép áp dụng để chuyển đổi quyền sở hữu vốn (bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào) của mình thành quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế ở một nƣớc khác. Đây là hình thức đầu tƣ bằng vốn của tƣ nhân do các chủ đầu tƣ tự quyết định đầu tƣ, quyết định sản xuất kinh doanh, tự điều hành và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi.
Ngƣời ta có thể phân loại hình thức FDI theo nhiều cách khác nhau: phân loại theo tính chất sử dụng vốn đầu tƣ, theo ngành đầu tƣ hay theo nguồn vốn… Khóa luận này sử dụng cách phân loại phổ biến nhất là phân loại theo tỷ lệ sở hữu của ngƣời nƣớc ngoài trong các dự án đầu tƣ (tính chất sở hữu). Nếu phân loại theo tính chất sở hữu, hình thức FDI thƣờng đƣợc chia thành các dạng chủ yếu là hình thức doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài, hình thức doanh nghiệp liên doanh, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Bên cạnh đó các nƣớc còn ghi nhận các hình thức BOT, doanh nghiệp cổ phần, hình thức công ty mẹ - con 13 z (Holding Company), hình thức công ty hợp danh, hình thức chi nhánh công ty nƣớc ngoài… nhƣ là một hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Việc lựa chọn các loại hình doanh nghiệp trƣớc khi tiến hành hoạt động kinh doanh là rất quan trọng, quyết định đến sự thành bại của hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của nƣớc sở tại, nhiều doanh nghiệp đã có những sự thay đổi về tỷ lệ vốn đầu tƣ của chủ đầu tƣ nƣớc ngoài tùy theo hiệu quả và chiến lƣợc kinh doanh dẫn đến sự thay đổi các hình thức doanh nghiệp. Luật pháp các nƣớc thừa nhận sự thay đổi này nhƣ một sự chuyển đổi hình thức đầu tƣ. Khái niệm về chuyển đổi hình thức đầu tƣ đƣợc hiểu là việc doanh nghiệp đƣợc cấp phép đầu tƣ theo một hình thức của Luật đầu tƣ tại nƣớc sở tại tiến hành chuyển đổi sang một hình thức đầu tƣ khác đƣợc Luật pháp nƣớc sở tại thừa nhận hay nói cách khác đó là việc doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài khi đăng ký lại theo Luật đầu tƣ của nƣớc sở tại có thay đổi hình thức tổ chức doanh nghiệp theo giấy phép đầu tƣ đã đƣợc cấp. Đặc trưng của các hình thức FDI (phân theo tính chất sở hữu) 1.1 Hình thức 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp đầu tƣ dƣới hình thức 100% vốn nƣớc ngoài (gọi tắt là doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài) là doanh nghiệp có 100% vốn thuộc sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thành lập tại nƣớc chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Về mặt pháp lý, doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài đƣợc thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, có tƣ cách pháp nhân theo pháp luật của nƣớc chủ nhà, chịu sự kiểm soát của pháp luật nƣớc sở tại. Về mặt kinh doanh, doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài hoạt động theo sự điều hành, quản lý của chủ đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣng vẫn phải tùy thuộc vào các điều kiện về môi trƣờng kinh doanh nƣớc sở tại nhƣ các điều kiện về chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa, mức độ cạnh tranh… 14 z Đối với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, ƣu điểm của hình thức đầu tƣ 100% vốn khiến họ có thể chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực, triển khai nhanh dự án đầu tƣ để thực hiện chiến lƣợc của mình, lợi nhuận không bị chia sẻ. Nhà đầu tƣ có quyền chủ động lựa chọn đối tác, dự án đầu tƣ, địa bàn, thời hạn đầu tƣ, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở phù hợp với quy định của nƣớc nhận đầu tƣ. Đặc biệt đối với các công ty xuyên quốc gia thì họ lựa chọn hình thức này nhằm thực hiện các hoạt động chuyển giá nội bộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là tránh bị mất các bí quyết công nghệ hoặc các ràng buộc về việc phải chuyển giao công nghệ cho phía nƣớc sở tại.
Nhƣng đồng thời, chủ đầu tƣ cũng phải gánh chịu toàn bộ rủi ro và phải chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận một thị trƣờng mới. Hình thức 100% vốn nƣớc ngoài có ƣu điểm đối với nƣớc chủ nhà là thu đƣợc ngay tiền thuê đất, tiền thuế mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nƣớc chủ nhà có thể giải quyết đƣợc công ăn việc làm cho ngƣời lao động mà không cần bỏ vốn đầu tƣ cũng nhƣ có thể tập trung thu hút vốn, công nghệ nƣớc ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích xuất khẩu. Tuy nhiên, so với hình thức liên doanh nƣớc chủ nhà khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nƣớc ngoài để nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở các doanh nghiệp trong nƣớc, điều mà trên thực tế các nƣớc đang phát triển rất cần.
Chính việc khó kiểm soát đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài mà một số quốc gia có những quy định hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài. Đầu tƣ theo hình thức này vì vậy sẽ gặp những hạn chế nhất định trong một số lĩnh vực có nhiều lợi nhuận, những lĩnh vực nhạy cảm với nƣớc sở tại và trong quan hệ với các cơ quan quản lý .2 Doanh nghiệp Liên doanh Doanh nghiệp đầu tƣ dƣới hình thức liên doanh (gọi tắt là doanh nghiệp liên doanh) là doanh nghiệp đƣợc thành lập tại nƣớc chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa Bên hoặc các Bên nƣớc chủ nhà với Bên và các Bên nƣớc ngoài để đầu tƣ, kinh doanh tại nƣớc chủ nhà. Trong một số trƣờng hợp đặc biệt doanh 15 z nghiệp liên doanh có thể đƣợc thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa chính phủ nƣớc chủ nhà với chính phủ nƣớc khác. Nói cách khác doanh nghiệp liên doanh đƣợc thành lập do 1 nhóm ngƣời có lợi ích kinh tế chung thông qua 1 bản thỏa thuận về hợp tác cùng nhau kinh doanh.
Các bên trong liên doanh có chung quyền sở hữu, quyền quản lý, điều hành hoạt động và đƣợc hƣởng các quyền lợi về tài sản. Đây là hình thức đầu tƣ đƣợc sử dụng rộng rãi nhất của các nhà đầu tƣ trực tiếp khi muốn xâm nhập vào thị trƣờng nƣớc ngoài mới.