CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN A. Giới thiệu về cây sả chanh [1, 4, 6] 1. Nguồn gốc và phân bố ˗ Cây Sả chanh có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm của lục địa Á – Âu – Phi. ˗ Loài Sả này phân bố ở Ấn Độ, Sri Lanka, các nước Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, một số nước châu Phi và vùng Caribê.
˗ Ở nước ta, cây Sả chanh được trồng hầu hết ở khắp các tỉnh phía Bắc nước ta, tập trung ở một số nông trường như Việt Trung (Quảng Bình), Thạch Ngọc (Nghệ Tĩnh cũ ), Cửu Long (Hà Sơn Bình cũ), Bắc Sơn (Bắc Thái cũ ), v.v… Sau năm 1975, cây Sả còn được nghiên cứu và trồng trọt ở các tỉnh phía Nam như miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, v. Đặc tính sinh thái 1. Tên gọi ˗ Tên gọi thông thường: Sả chanh, Cỏ sả, Cỏ chanh, Hương mao… ˗ Tên tiếng Anh: Lemongrass, Oil grass, Citronella grass. ˗ Tên khoa học: Cymbopogon citratus.
˗ Tên đồng nghĩa: Andropogon citratus. Phân loại khoa học Giới : Plantae Bộ : Poales Họ : Poaceae (Hoà thảo) Chi : Cymbopogon Loài : cc 1. Hình thái, đặc điểm Sả chanh là cây thân cỏ, sống được lâu năm. Sả thường mọc thành bụi rậm, thân sả cao khoảng 80 -150 cm.
Thân sả hình tròn và được tạo thành bởi các bẹ lá ôm sát vào nhau. 14 Luan van Phần gốc sả có nhiều đốt màu tím. Củ sả thực ra là thân sả phình to ra và nổi lên trên mặt đất. Củ sả có màu xanh nhạt, thuôn dài.
Lá sả hẹp, dài giống như lá lúa, mép lá có răng cưa nhỏ, đầu lá cong. Hoa sả có nhiều bông nhỏ, không có cuống. Cụm hoa gồm nhiều bông nhỏ không cuống. Toàn cây có mùi thơm đặc biệt mùi chanh.
Mùa hoa sả thường nằm vào khoảng tháng 3 tới tháng 4 nhưng ở Việt Nam chưa thu được quả. Sả có thể sống lâu năm nhờ vào bộ rễ. Rễ sả phát triển khoẻ. Sả là cây chịu hạn nhưng chịu ngập úng kém.
Nhiệt độ thích hợp đối với cây Sả là 24-28 C. Cây Sả phát triển kém khi nhiệt độ dưới 10 0C. Trên 35 0C Sả cũng sinh trưởng 0 kém. Lượng mưa thích hợp là 1500 – 2000 mm/năm.
Về rễ: Rễ là rễ chùm, mọc tập trung ở đốt thân đầu tiên của cây và có khả năng phát sinh trên tất cả các đốt của thân, nhánh. Trong điều kiện đất tơi xốp giàu chất hữu cơ, bộ rễ có thể phân bố rộng tới hơn 20 cm và ăn sâu xuống mặt đất từ 15 tới 20 cm. Mặc dù là loài cây hoà thảo nhưng cây sả chanh lại có bộ rễ có khả năng chịu hạn khá hơn một số loài hoà thảo khác; tuy nhiên ẩm độ cao, đất tơi xốp vẫn là điều kiện tốt cho rễ phát sinh, phát triển. Ẩm độ đất thấp (55%) hoặc quá cao (> 80 %) đều rất bất lợi cho rễ phát triển.
Về thân, nhánh: Thân cây sả có nhiều đốt, các gốc có đốt rất ngắn chỉ từ 0,2 tới 3 cm, các đốt ở phía trên dài dần nhưng không quá 2 cm. Vì vậy chiều cao cây biến động từ 10 tới 20 cm. Trên mỗi đốt mang một mầm lá, một mầm ngủ mọc so le và đai rễ có thể phát sinh nhiều rễ, nên các đốt của đoạn thân trên cũng phát sinh rễ bất định. Các mầm ngủ phát sinh trên thân khoẻ tạo thành nhánh cấp I, các nhánh cấp I cũng phát sinh ra nhiều nhánh cấp II.
Do vậy ban đầu trồng một cây sả về sau sẽ phát triển thành bụi sả. Trung bình một cây có thể phát sinh 80 - 100 nhánh. Đất tốt đủ dinh dưỡng, đủ ẩm có thể đạt tới 130 - 150 nhánh. Do bẹ lá ôm gần vòng thân và xếp sít nhau nên thân sả phía trên có màu trắng ngà, đoạn gốc thân có màu nâu vàng.
Về lá: Lá là bộ phận để chưng cất tinh dầu. Lá gồm có bẹ lá ôm sát thân, có gốc lá và phiến lá dài, mềm hơn bẹ. Chiều dài phiến lá gấp 1,5 tới 2 lần bẹ lá. Chiều dài lá biến động rất lớn từ 0,5 tới 0,7 m cá biệt có thể lên tới 1,3 tới 1,6 m.
Khi thu hoạch thì người ta thường cắt phần phiến lá. Số lá trên thân, cành tương ứng với số đốt. Trong kỹ thuật chăm sóc chúng ta cần chú ý để cho cây có tán lá rộng, phiến lá phát triển tốt để năng suất và tỷ lệ tinh dầu trong lá cao. Giá trị thực tiễn 1.
Trong ẩm thực ˗ Sả chanh được dùng làm gia vị trong nền ẩm thực lâu đời của các quốc gia châu Á. Nó có thể được dùng tươi hoặc sấy khô và xay thành bột mịn. 15 Luan van ˗ Ở Việt Nam, cây sả là nguyên liệu không thể thiếu trong các món mắm, món nấu với thịt… ˗ Ở Ấn Độ, nó được dùng trong các món súp, trà, cà ri… ˗ Ở các nước châu Phi (Togo, Congo…) và các nước vùng Trung Mỹ thì lại được dùng như trà uống. Trong y học ˗ Theo Đông Y: Sả chanh có tên là Hương mao, có vị cay the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, sát khuẩn, chống viêm, hạ khí, thông tiểu, tiêu đờm để chữa đầy bụng, khó tiêu, đái rắt, phù nề, chữa ho do cảm cúm… ˗ Ở Thái Lan, thân rễ cây sả được dùng để trị bạch đới, dùng diệt muỗi.
˗ Ở Trung Quốc lại được dùng làm thuốc khử trùng, trừ giun. ˗ Ở Indonesia thì dùng rễ kết hợp với nhiều vị thuốc khác nhằm chữa bệnh vàng da. ˗ Ở các quốc gia Nam Mỹ, tinh dầu sả được cho là có khả năng giải toả lo âu, căng thẳng, chống co giật nhưng không ảnh hưởng tới sức khoẻ. ˗ Tinh dầu sả còn có tác dụng chống viêm, chống oxi hoá nên có tiềm năng ngăn ngừa ung thư.
˗ Một số bài thuốc cổ truyền có dùng cây sả: + Trị chứng đầy bụng: Lá sả, vỏ bưởi, hồi hương, trạch tả, mộc thông, cỏ bấc, mỗi vị 10g; quế 5g; bồ hóng, diêm tiêu, mỗi vị 2g; xạ hương 0,05g. Tất cả sắc cách thủy với 200ml nước trong 15 - 30 phút, chia uống làm hai lần trong ngày. Nên uống sau bữa ăn trưa và tối. Uống trong 2 ngày.
Lưu ý: Trong quá trình điều trị không nên đồ nếp và muối mặn. + Thuốc xông giải cảm: Lá sả, lá bưởi, lá chanh, cúc tần, hương nhu hoặc lá bạch đàn (có thể thêm tía tô, bạc hà, kinh giới), mỗi thứ 50g, cho vào nồi, đậy kín, đun sôi trong 5-10 phút. Lấy ra, mở vung, trùm chăn xông hơi cho ra mồ hôi, lau khô, rồi uống một bát nước thuốc, đắp chăn, nằm nghỉ. + Chữa tiêu chảy do lạnh bụng: Rễ sả 10g; củ gấu, vỏ rụt, mỗi vị 8g; vỏ quýt, hậu phác, mỗi vị 6g tất cả đem sắc với 3 bát nước còn 1 bát, uống khi thuốc 16 Luan van còn ấm nên uống vào buổi sáng.
Dùng trong 2 ngày. Hoặc rễ sả 10g, búp ổi 8g, củ riềng già 8g, thái nhỏ, sao qua, sắc với 200ml nước còn lại 50ml, uống sau bữa ăn. + Chữa ho do cảm cúm: Rễ sả, trần bì, sinh khương, tô tử, mỗi vị 200g, tất cả giã nát, ngâm với rượu 40 độ (200ml rượu); bách bộ bỏ lõi, thái nhỏ, sao khô 400g; mạch môn bỏ lõi 200g; tang bạch bì tẩm mật, sao vàng 200g, 3 vị thuốc này đem sắc cô đặc lại thành 250ml cao lỏng. Trộn lẫn cao lỏng và rượu ngâm thuốc.
Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 5-10ml. Uống trong 3 ngày. Trong những lĩnh vực khác ˗ Ở các quốc gia Đông Nam Á, người ta dùng tinh dầu sả chanh làm chất bảo quản, ngoài ra còn dùng để đuổi muỗi, côn trùng. ˗ Mặc dù dầu sả có khả năng xua đuổi côn trùng, tuy nhiên dầu sả có tác dụng hấp dẫn và được sử dụng như "mồi nhử" để thu hút ong mật.
Vì một trong những chất pheromone từ ong chúa tiết ra giống như một chất có mùi của tinh dầu sả. Do đó trong kỹ thuật nuôi ong mật người ta dùng dầu sả như chất gọi đàn khi đàn ong mới được chuyển vùng. ˗ Ở Việt nam cây sả được trồng khắp, nhân dân trồng cây sả quanh nhà, ngoài vườn, xung quanh nhà vệ sinh để xua đuổi ruồi, muỗi, dĩn, bọ chét vừa làm sạch môi trường, vừa có tác dụng phòng bệnh. Ngoài ra, tinh dầu sả còn khử mùi hôi trong công tác vệ sinh.Kinh nghiệm dân gian Nam Bộ cho biết khi trồng sả rắn độc không dám đến gần để trú ẩn hay làm hang.
˗ Ở Ấn Độ, theo kinh nghiệm dân gian, người ta dùng thân là sả đặt trên ngọn cây dầu cọ để xua đuổi các loài bọ cánh cứng hại cây cọ. ˗ Tinh dầu sả được khai thác trong công nghiệp với mức độ ngày càng cao, hiện nay chúng được dùng trong các sản phầm dầu thơm y học, dầu thơm mỹ phẩm, xà phòng y tế, hương liệu thực phẩm… 1. Các loài sả khác 17 Luan van ˗ Chi sả thuộc họ Poaceae hiện nay bao gồm 55 loài, chúng phân bố khắp thế giới, chủ yếu ở các quốc gia có khí hậu ấm áp. Sau đây xin nói thêm về một số loài sả khác.
Sả Java – Sả đỏ - Sả xoè ˗ Tên khoa học: Cymbopogon winterianus ˗ Phân bố ở các nước Đông dương, Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc. Ngoài ra còn được trồng ở nhiều nơi như Đài Loan, Goatemala, Ghinê, Madagascar, Thái Lan… Tại Việt Nam thì sả Java được nhập trồng ở các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên. Sau năm 1975 lại đã được đưa trồng tại nhiều nơi ở Tây Nguyên và miền Đông Nam. ˗ Sả Java thuộc họ cây thân thảo, sống lâu năm, mọc thành bụi, có chiều cao từ 80 cm đến trên 1m.
Đốt ngắn, được bao bọc bởi các bẹ, các lá bẹ ôm chặt với nhau. Bẹ lá có vân sọc, màu vàng nhạt hoặc đỏ tía, nhẵn. Phiến lá hình dải, thuôn, nhọn, kích thước 1-1,2mx1,5(-5)cm;nhẵn; đầu thuôn nhọn, mặt trên màu xanh nhạt, bóng; mặt dưới hơi ráp, có màu mốc phấn, mép lá hơi gợn răng cưa mảnh. ˗ Lá hẹp, dài giống như lá lúa, mép lá hơi nhám, đầu lá thường uốn cong xuống.
Rễ cây phát triển khỏe ăn sâu ở lớp đất 20 - 25 cm, chồi mọc từ nách lá tạo thành dảnh sả. Nhiều dảnh sả tạo thành bụi sả. ˗ Cụm hoa dạng chùm, dài 60-100cm, phân nhiều chùm nhánh, mảnh và kết thúc là những chùm đôi; lá bắc hình đường, thuôn hay hình mác, dài 1-2,5cm; nhiều gân, màu đỏ nhạt. Chùm đôi dài 1-2cm, gồm một hoa đực hoặc vô tính, có cuống và một hoa lưỡng tính, nhỏ, không cuống.
Quả dĩnh, hình trụ hay gần hình cầu.