Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Xem xét tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế, chúng ta thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực, nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế xã hội dưới những góc độ riêng như Triết học, Kinh tế học, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nhân học, Xã hội học… Tuy nhiên, nghiên cứu cơ bản và hệ thống về “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế” dưới góc độ chính trị học còn là một khoảng trống. Để có thêm cơ sở vững chắc cho những nghiên cứu của luận án, việc khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án là vô cùng cần thiết. Các công trình nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Khi bàn về những vấn đề lí luận chung phát triển nguồn nhân lực và nhân lực chất lượng cao, các nhà nghiên cứu đã có sự đồng thuận về cơ bản, nhưng ở những góc độ cụ thể thì vẫn còn có những nhận thức khác nhau. Về khái niệm nguồn nhân lực, các nghiên cứu của Liên hiệp quốc, Ngân hàng thế giới cùng một số nhà khoa học tiêu biểu như Milton Freidman, Simon Kuznet và Gary Becker (2010), Phạm Minh Hạc (1996)1, Phạm Thành Nghị (2005), Đoàn Văn Khái (2000)2, Lê Thị Ngân (2001), Lê Thị Hồng Điệp (2012)… đều cơ bản thống nhất đó là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực và tính sáng tạo mà mỗi cá nhân sở hữu.
Cụ thể: (1) Ngân hàng thế giới (WB) quan niệm: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực (năng lực, trí tuệ, tính sáng tạo), kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân. Vốn con người tồn tại bên cạnh các loại 1 Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG, Hà Nội. 2 Đoàn Văn Khái (2000), “Bàn thêm về khái niệm nguồn lực con người”, Tạp chí Triết học (3), Tr.32-34 8 z vốn vật chất khác như tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai, góp phần làm cho nền kinh tế hưng thịnh hơn. Những quan niệm trên đây thống nhất cho rằng nguồn nhân lực là nguồn cung cấp lao động, đang tham gia hoặc sẽ tham gia vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) lại cho rằng “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Nhưng nếu hiểu như vậy thì nguồn nhân lực chỉ gồm những người từ đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 16 đến 55 đối với nữ theo quy định của Luật Lao động Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực cũng được nhiều tác giả bàn đến, trong đó nổi lên hai xu hướng quan niệm. Xu hướng thứ nhất cho rằng phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình giáo dục đào tạo để tăng vốn con người. Tiêu biểu cho quan niệm này là các nhà khoa học như Nadler & Nadler (dẫn theo “Phát triển và quản lý nguồn nhân lực xã hội” Nxb Tư pháp, 2006), Gary Becker (2010), Lê Thị Ái Lâm (2003). Xu hướng thứ hai quan niệm rộng hơn khi cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Những nhà khoa học đại biểu cho xư hướng này là Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Yoshihara Kunio (dẫn theo “Phát triển và quản lý nguồn nhân lực xã hội” Nxb Tư pháp, 2006), Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (2012). Về khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao, cũng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau. Hầu hết các tác giả đều thống nhất: Nguồn nhân lực có chất lượng cao là khái niệm chỉ "bộ phận chất lượng cao của nguồn nhân lực, thể hiện sức mạnh và vai trò "đầu tàu"; có trình độ chuyên môn cao; có khả năng thích ứng nhanh với môi trường lao động và tiến bộ khoa học công nghệ mới; có đạo đức và tác phong kỷ luật cao; có khả năng tư duy đột phá với những 9 z cống hiến trong lĩnh vực hoạt động của mình. Song nếu xét về trình độ chuyên môn kỹ thuật thì còn nhiều quan niệm khác nhau.TS Nguyễn Trọng Chuẩn (2003), GS.TS Nguyễn Văn Khánh (2010) nhấn mạnh, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những người có học vấn, trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên.
Một số nhà khoa học lại quan niệm, nguồn nhân lực chất lượng cao là những nhân lực đã qua đào tạo nghề trỏe lên hoặc có chứng chỉ đào tạo nghề từ 03 tháng trở lên. Những quan niệm nêu trên tuy còn những điểm chưa thống nhất song là những gợi mở quan trọng để tác giả luận án xác định phạm vi nghiên cứu cũng như làm rõ hơn nữa những khái niệm liên quan trực tiếp đến luận án. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao cũng được nhiều nhà khoa học đi sâu phân tích. Tiêu biểu như Lý Quang Diệu - “Tuyển 40 năm chính luận của Lý Quang Diệu” (1994), Đặng Tiểu Bình - “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” (2008), Hồ Chí Minh.
luôn luôn coi trọng vai trò của nhân lực chất lượng cao, những người tài đức. Nhiều nhà nghiên cứu trong nước cũng đặc biệt chú ý đến vấn đề này: PGS Đàm Đức Vượng, GS.TS Phạm Tất Dong, TS. Nguyễn Đắc Hưng. là những người có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này.
Để đẩy mạnh công cuộc xây dựng nền móng đất nước, ngày 20/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra văn bản “Tìm người tài đức” đăng trên báo Cứu quốc số 411. Văn bản nêu rõ "Nhà nước cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức.
E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận". Hồ Chủ tịch cũng đề xuất sửa đổi khuyết điểm bằng cách chiêu mộ người tài. "Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết.
Báo cáo phải nói rõ tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện 10 z vọng và chỗ ở của người đó". Với Lý Quang Diệu "chế độ Singapore thực hành là chế độ trọng dụng nhân tài", coi việc biết đào tạo và dùng người tài là bí quyết thành công của Singapore trong phát triển nhân lực bậc cao, phát triển nhân tài của Singapore. “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” của hai tác giả Thẩm Vĩnh Hoa và Ngô Quốc Diệu (2008) đã rất thành công trong việc phân tích tư tưởng của Đặng Tiểu bình về giáo dục đào tạo, về tôn trọng trí thức, nhân tài, về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nhân tài, trí thức, Đặng Tiểu Bình đã xây dựng một loạt chính sách để phát huy vai trò của nguồn lực này trong quá trình phát triển đất nước.
“Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” đã trở thành cơ sở cho Đảng Cộng sản Trung Quốc thực hiện đường lối, chính sách cán bộ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Trần Văn Tùng (2005), trong nghiên cứu “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng” nhấn mạnh: quốc gia, dân tộc nào không quý trọng tài năng, không biết sử dụng tài năng quý giá đó, tất yếu phải rơi vào cảnh nghèo nàn, tụt hậu. Do vậy phải có cách nhìn mới, chính sách mới và tập trung cao độ cho việc đào tạo đội ngũ nhân lực, sử dụng hiệu quả đội ngũ đó vì mục tiêu phát triển đất nước. Đoàn Văn Khái (2005), trong nghiên cứu “Nguồn nhân lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” cho rằng, con người được coi là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Do vậy, việc khai thác, sử dụng và phát triển hiệu quả nguồn lực đó sẽ là điều kiện tiên quyết, đảm bảo cho sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh mới, việc xem xét lại vị trí, vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Dave Ulrich (1996), “Human Resource Champions: The Next Agenda for Adding Value and 11 z Delivering Results”, Published by Harvard Business Review Press. Trong cuốn sách này, tác giả cho rằng vai trò của nhân lực chất lượng cao phải được xác định lại để đáp ứng những thách thức mà tổ chức phải đối mặt ngày hôm nay và trong tương lai.
Ông xác định bốn vai trò khác nhau mà nhân lực chất lượng cao cần phải đảm nhiệm là: nhà chiến lược, một chuyên gia trong lĩnh vực hành chính, một thủ lĩnh của các nhân viên và vai trò của một tác nhân thay đổi. Dave Ulrich có một cái nhìn rất thực tế bởi ông lập luận trong quá trình làm việc, nhân lực chất lượng cao của một tổ chức thường phải hoạt động trong cả bốn lĩnh vực này. Ông kêu gọi một sự thay đổi trong tâm lý của nhân lực chất lượng cao 'từ "những gì tôi làm" tới "những gì tôi cung cấp" và phải khuyến nghị tới tất cả các cá nhân người lao động ý thức về vấn đề này để nâng cao sức cạnh tranh của tổ chức. Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, đây là cơ sở rất quan trọng giúp luận án triển khai nghiên cứu vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập được sáng rõ hơn.