Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học (mã số: 62 31 02 01) của nghiên cứu sinh Phạm Đức Tiến, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Chí Bảo tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017, mang tiêu đề: "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận giải rằng con người giữ vị trí trung tâm trong lịch sử phát triển xã hội và là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất. Bước sang thế kỷ XXI, hội nhập quốc tế trở thành xu thế bao trùm. Đối với Việt Nam, mốc Đại hội X (2006) khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tiếp đó là việc tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC năm 2015) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP năm 2016) đã chuyển tiến trình hội nhập từ phạm vi kinh tế sang tất cả các lĩnh vực đời sống. Tuy nhiên, các thành quả đạt được vẫn chủ yếu dựa trên nguồn lao động trình độ thấp, khai thác tài nguyên, vay vốn và nhập khẩu dây chuyền thiết bị. Tình trạng lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn, năng lực quản lý và kỹ năng chuyên môn còn thấp, dẫn đến nguy cơ tụt hậu, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ô nhiễm môi trường và thất nghiệp.
Xét về phương diện học thuật, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề phát triển nhân lực dưới góc độ kinh tế học, kinh tế chính trị, triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, nhân học hoặc xã hội học trong các bối cảnh như công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay xây dựng kinh tế tri thức. Việc phân tích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với việc vận hành quyền lực chính trị của Đảng và Nhà nước trong quá trình hội nhập quốc tế một cách có hệ thống dưới góc độ chính trị học vẫn là khoảng trống nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận án là luận giải và làm sáng tỏ vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế giai đoạn từ năm 2006 đến nay; từ đó khuyến nghị một số phương hướng, giải pháp bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm đẩy mạnh sự phát triển của lực lượng này.
Nhiệm vụ nghiên cứu được luận án xác định theo 04 nội dung đánh số cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án;
- Xây dựng khung lý thuyết của đề tài bao gồm các khái niệm, đặc điểm, các yếu tố tác động và vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế;
- Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế, xác định những vấn đề đặt ra;
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp có tính khả thi nhằm đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế.
Đối tượng nghiên cứu là việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế, tập trung phân tích quá trình Đảng và Nhà nước với tư cách các chủ thể chính trị sử dụng quyền lực chính trị thông qua đường lối, chính sách, cơ chế, thể chế để tác động và dẫn dắt lực lượng này.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Về nội dung: Luận án chỉ giới hạn khảo sát ở bộ phận nguồn nhân lực được đào tạo, có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng trở lên. Bộ phận nhân lực từ trung cấp trở xuống và lực lượng nghệ nhân, lao động giỏi truyền nghề không qua trường lớp không thuộc phạm vi thống kê của đề tài. Cụm từ "quá trình hội nhập quốc tế" được xác định tương đương với "bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế".
- Về không gian: Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi cả nước Việt Nam, đồng thời xem xét kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia gồm Mỹ, Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc.
- Về thời gian: Tập trung khảo sát từ năm 2006 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2017). Mốc 2006 gắn liền với hai sự kiện: Văn kiện Đại hội X của Đảng lần đầu tiên sử dụng chính thức thuật ngữ "nguồn nhân lực chất lượng cao", đồng thời là thời điểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong nước và quốc tế theo hai nhóm vấn đề chính cùng các tiểu nhóm nội dung:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung:
- Về khái niệm nguồn nhân lực: Tác giả điểm lại quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cùng các nghiên cứu của Milton Friedman, Simon Kuznets, Gary Becker (2010), Phạm Minh Hạc (1996), Phạm Thành Nghị (2005), Đoàn Văn Khái (2000), Lê Thị Ngân (2001), Lê Thị Hồng Điệp (2012), Trần Thị Tâm Đan. Các công trình thống nhất nhìn nhận nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, tâm lực và kỹ năng. Riêng ILO và Luật Lao động Việt Nam chú trọng đến độ tuổi lao động (từ đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam, từ đủ 15 đến 55 tuổi đối với nữ).
- Về khái niệm phát triển nguồn nhân lực: Phân tách thành hai xu hướng, gồm xu hướng thu hẹp coi phát triển nhân lực là quá trình giáo dục đào tạo tăng vốn con người (Nadler & Nadler năm 2006, Gary Becker năm 2010, Lê Thị Ái Lâm năm 2003) và xu hướng mở rộng bao hàm việc tạo lập, phân bổ, sử dụng năng lực và thỏa mãn cuộc sống cá nhân (ILO, UNESCO, Yoshihara Kunio năm 2006, Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy Hùng năm 2012).
- Về tiêu chí nguồn nhân lực chất lượng cao: Tác giả trích dẫn quan điểm của Nguyễn Trọng Chuẩn (2003), Nguyễn Văn Khánh (2010), Đàm Đức Vượng, Hồ Bá Thâm (với 4 tiêu chí: chuyên môn cao, thích ứng nhanh, kỷ luật đạo đức, tư duy sáng tạo), Lương Công Lý (2014), Bùi Đại Dũng và Nguyễn Minh Phương.
- Về vị trí, vai trò của nhân lực chất lượng cao: Tác phẩm "Làn sóng thứ ba" của Alvin Toffler; bài viết "Tìm người tài đức" của Chủ tịch Hồ Chí Minh (báo Cứu quốc số 411 ngày 20/11/1946); tác phẩm của Lý Quang Diệu (1994); nghiên cứu của Thẩm Vĩnh Hoa và Ngô Quốc Diệu (2008) về tư tưởng Đặng Tiểu Bình; Trần Văn Tùng (2005); Đoàn Văn Khái (2005); mô hình 4 vai trò của Dave Ulrich (1996) trong tác phẩm "Human Resource Champions" (nhà chiến lược, chuyên gia hành chính, thủ lĩnh nhân viên, tác nhân thay đổi).
- Về thực trạng và kinh nghiệm phát triển nhân lực: "Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020" của Chính phủ (2011), 61 đề án quy hoạch nhân lực cấp tỉnh; các nghiên cứu của Nguyễn Văn Khánh và Hoàng Thu Hương (2010), Nguyễn Xuân Ba (2005), Lê Xuân Bá và Lương Thị Minh Anh (2005), Phùng Đức Chiến (2008), Nguyễn Hữu Dũng (2002), Nguyễn Anh Tuấn (2008), Lưu Đức Hải (2015). Đáng chú ý là cảnh báo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB năm 2005) về "3 cái bẫy kỹ năng thấp" đối với các quốc gia đang phát triển. Nhóm kinh nghiệm quốc tế gồm các công trình của Lê Thị Ái Lâm (2003), Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2008), Vũ Trường Giang (2011), Cảnh Chí Hoàng và Trần Vĩnh Hoàng (2013), Jang Ho Kim (2005 - mô hình Hàn Quốc), Okuhina Yasuhiro (1994 - kinh nghiệm Nhật Bản). Nhóm giải pháp có các công trình của Phạm Minh Hạc (2007), Lê Quang Hùng (2011), Nguyễn Ngọc Quỳnh (2015) và kỷ yếu hội thảo của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2008).
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế:
- Dự báo sự biến đổi việc làm và công nghệ: Alvin Toffler (1980); Eric Schmidt và Jared Cohen (2015) trong "Sống sao trong thời đại số?"; dự án đánh giá tác động WTO của Bộ Công thương và Ủy ban Châu Âu; nghiên cứu về hội nhập AEC của Nguyễn Thường Lạng và Trần Đức Thắng (2015), Ngọc Lê (2015); các phân tích về TPP của Tùng Lâm (2015), Nguyễn Tiến Dũng (2015).
- Yêu cầu chuyển đổi tư duy và phẩm chất công dân toàn cầu: Tác phẩm "Tư duy lại tương lai" (2006) của Rowan Gibson, Charles Handy, Philip Kotler, Michael Porter, Lester Thurow; cuốn sách "Công dân toàn cầu" (2011) của Mark Gerzon; các công trình của Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Hồng Diễm (2011), Nguyễn Duy Hùng (2012).
- Vấn đề quản lý và điều chỉnh thể chế nhà nước: Jackson và Ibraiz Tarique (2011) về quản lý tài năng toàn cầu; Phạm Thái Việt (2008) về điều chỉnh thể chế và xây dựng "thể chế cạnh tranh trong khâu nhân sự"; luận án của Võ Thị Kim Loan (2014) về địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Mặc dù các công trình đã tiếp cận phong phú từ kinh tế, triết học đến xã hội học, song chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở quy mô quốc gia dưới góc độ chuyên ngành Chính trị học. Cụ thể, việc phân tích phương thức sử dụng quyền lực chính trị của Đảng và Nhà nước để ban hành đường lối, luật pháp, chính sách nhằm tác động, thúc đẩy và điều tiết nguồn nhân lực này thích ứng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng vẫn chưa được luận giải đầy đủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng hệ thống các khái niệm công cụ và khung tiếp cận quyền lực chính trị:
- Nguồn nhân lực: Được xác định là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội bao gồm những người đang và sẽ tham gia quá trình lao động sản xuất. Cấu trúc nguồn nhân lực gồm ba yếu tố gắn kết: thể lực (thể trạng sức khỏe), trí lực (trình độ chuyên môn, trí tuệ, tính sáng tạo, kỹ năng làm việc) và tâm lực (tâm lý, phẩm chất đạo đức, ý chí, nhu cầu).
- Nguồn nhân lực chất lượng cao: Là bộ phận giữ vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong nguồn nhân lực; có thể lực tốt, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; sở hữu tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với môi trường quốc tế; có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và kỹ năng xã hội chuẩn mực, đáp ứng yêu cầu công việc phức tạp nhằm tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập quốc tế: Là tổng thể các hoạt động của Đảng và Nhà nước thông qua việc hoạch định đường lối, hoàn thiện cơ chế, chính sách (trọng tâm là giáo dục và đào tạo) nhằm kiến tạo lực lượng nhân lực chất lượng cao đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng và hợp lý về cơ cấu.
- Hội nhập quốc tế: Là hành động các quốc gia chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa trên cơ sở lựa chọn, chấp nhận, áp dụng và tham gia xây dựng các chuẩn mực, luật lệ quốc tế nhằm phục vụ tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc.
- Khung phân tích chính trị học: Đặt quyền lực chính trị làm phạm trù trung tâm, phân tích cơ chế Đảng lãnh đạo (định hướng chủ trương, đường lối, kiểm tra, giám sát) và Nhà nước quản lý (thể chế hóa thành pháp luật, chính sách, tổ chức thực thi và điều phối nguồn lực xã hội).
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Cơ sở phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử - logic: Dùng để phản ánh tiến trình phát triển nhân lực gắn với các giai đoạn hội nhập từ năm 2006, đồng thời khái quát hóa bản chất của các chủ trương, chính sách chính trị.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các yếu tố cấu thành quyền lực chính trị, nội dung thể chế và tổng hợp đánh giá kết quả thực thi các chính sách phát triển nhân lực.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại và xử lý các số liệu thứ cấp về giáo dục đại học, cơ cấu trình độ lao động, chỉ số phát triển con người, năng lực cạnh tranh và công bố khoa học.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu giữa mục tiêu chiến lược với kết quả thực tế đạt được; so sánh các chỉ số phát triển nhân lực của Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Vận dụng tri thức chuyên ngành Chính trị học kết hợp với kinh tế chính trị, triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế học, xã hội học và khoa học quản trị nhân lực.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
Luận án khai thác hệ thống văn kiện các kỳ Đại hội Đảng (X, XI, XII), các nghị quyết Trung ương; văn bản pháp luật, chiến lược phát triển của Chính phủ; số liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, báo cáo của 61 tỉnh thành, tài liệu của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Cơ quan Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và cơ sở dữ liệu thư mục Web of Science.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu, 04 chương (chia thành 15 tiết), Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả và Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này gồm 3 tiết. Tác giả đã tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các nghiên cứu đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, gia nhập WTO, AEC và TPP. Trên cơ sở chỉ ra những đóng góp căn bản của các học giả đi trước về lý luận, tiêu chí, vai trò và thực trạng nhân lực, tác giả xác định rõ khoảng trống khoa học: thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ chính trị học để phân tích vai trò vận hành quyền lực của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ hội nhập quốc tế.
Chương 2: Những vấn đề lí luận chung về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế
Nội dung chương 2 gồm 5 tiết, tập trung làm rõ:
- Hệ thống khái niệm công cụ: Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hội nhập quốc tế.
- Tác động của hội nhập quốc tế: Hội nhập thúc đẩy nền kinh tế tri thức, gia tăng hàm lượng chất xám, nhưng cũng tạo ra cạnh tranh nhân tài gay gắt và hiện tượng di dân, chảy máu chất xám từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển. Luận án trích dẫn số liệu tỷ trọng đóng góp của tri thức trong thu nhập quốc dân của Mỹ đạt mức 47% và dẫn số liệu của Viện Khoa học Thống kê về việc rút ngắn thời gian công nghiệp hóa qua các thời kỳ lịch sử (từ 100 năm ở thế kỷ XVIII xuống khoảng 10 năm vào thập niên 90 của thế kỷ XX).
- Cơ sở can thiệp và vai trò của Đảng, Nhà nước: Luận giải sự cần thiết phải can thiệp bằng quyền lực chính trị nhằm định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục các khuyết tật của thị trường lao động và bảo đảm an ninh quốc gia.
- Bốn nội dung phát triển: Gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng (thể lực, trí lực, tâm lực), chuyển dịch cơ cấu nhân lực phù hợp và phát huy vai trò của nguồn lực này.
- Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát thực tiễn phát triển nhân lực của Mỹ, Nhật Bản và Singapore về đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài nhằm rút ra các gợi mở thể chế cho Việt Nam.
Chương 3: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế - Thực trạng và nguyên nhân
Nội dung chương 3 gồm 3 tiết, tập trung khảo sát:
- Thực trạng lãnh đạo và quản lý: Phân tích sự chuyển biến trong quan điểm của Đảng từ Đại hội X (2006) đến Đại hội XII (2016) và việc ban hành chính sách của Nhà nước thông qua Chiến lược phát triển nhân lực 2011 - 2020 cùng các đề án quy hoạch địa phương.
- Kết quả thực hiện: Đánh giá sự gia tăng về quy mô đào tạo đại học, sau đại học; chuyển biến về chất lượng chuyên môn, thể lực, chỉ số HDI; mức độ đóng góp của nhân lực trình độ cao vào nền kinh tế và nghiên cứu khoa học.
- Hạn chế và nguyên nhân: Chỉ rõ tình trạng mất cân đối cơ cấu, thiếu hụt lao động kỹ thuật tay nghề cao, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh còn khoảng cách so với khu vực; phân tích nguyên nhân bắt nguồn từ nhận thức chưa đầy đủ, cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, đầu tư tài chính phân tán, giáo dục đào tạo chậm đổi mới và hợp tác quốc tế chưa đạt hiệu quả mong muốn.
Dưới đây là danh mục các bảng biểu thống kê dữ liệu thực chứng được tác giả sử dụng trong Chương 2 và Chương 3:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng biểu trong văn bản luận án |
| Bảng 2.1 |
Tiêu chuẩn chung của WHO về chiều cao, cân nặng |
| Bảng 2.2 |
Tiêu chuẩn tiêu thụ Kcal/phút theo cường độ lao động |
| Bảng 3.1 |
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật |
| Bảng 3.2 |
Số giáo viên các trường đại học và cao đẳng phân theo trình độ chuyên môn |
| Bảng 3.3 |
Giáo dục đại học và cao đẳng qua các năm 2006 - 2015 |
| Bảng 3.4 |
Số học viên được đào tạo sau đại học và chuyên khoa |
| Bảng 3.5 |
Tốc độ tăng chỉ số phát triển con người |
| Bảng 3.6 |
Thứ hạng HDI của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2014 |
| Bảng 3.7 |
So sánh năng lực cạnh tranh của nhân lực Việt Nam và một số nước trên thế giới năm 2008 |
| Bảng 3.8 |
Thể lực người Việt qua các năm 1975 - 2015 |
| Bảng 3.9 |
Số lượng công bố KH&CN của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 trong CSDL Web of Science |
| Bảng 3.10 |
Số lượng công bố KH&CN và thứ hạng của Việt Nam và một số quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 |
Chương 4: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế
Chương này gồm 5 tiết, đề xuất hệ thống giải pháp tương ứng với các nguyên nhân đã phân tích:
- Tiết 4.1: Giải pháp về nhận thức (nâng cao nhận thức của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội về vị trí chiến lược của nhân lực chất lượng cao trong hội nhập).
- Tiết 4.2: Giải pháp về cơ chế, chính sách (hoàn thiện thể chế tuyển dụng, trọng dụng, xây dựng cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong đánh giá và đãi ngộ cán bộ).
- Tiết 4.3: Giải pháp về giáo dục đào tạo (đổi mới căn bản chương trình đào tạo đại học, sau đại học và đào tạo nghề theo chuẩn mực khu vực và quốc tế).
- Tiết 4.4: Giải pháp về kinh tế, tài chính (phân bổ ngân sách hợp lý, tăng cường đầu tư có trọng tâm cho các cơ sở nghiên cứu và đào tạo).
- Tiết 4.5: Giải pháp về hợp tác quốc tế (đẩy mạnh liên kết đào tạo, thu hút chuyên gia quốc tế và kiều bào, tiếp thu chuyển giao công nghệ giáo dục hiện đại).
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm phong phú lý luận về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dưới góc nhìn chuyên ngành Chính trị học; làm sáng tỏ khung lý thuyết về mối quan hệ giữa quyền lực chính trị của Đảng, Nhà nước với quá trình định hướng, điều tiết và phát triển lực lượng lao động trình độ cao trong điều kiện hội nhập quốc tế đa phương diện.
Về mặt thực tiễn, công trình làm rõ bức tranh thực trạng việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2017; chỉ ra các thành tựu về gia tăng quy mô và các hạn chế tồn tại như tình trạng khan hiếm nhân lực kỹ thuật, năng lực cạnh tranh thấp và nguy cơ rơi vào bẫy kỹ năng thấp. Luận án đồng thời bổ sung hệ thống luận cứ thực chứng và tư liệu thống kê về nhân lực phục vụ nghiên cứu và giảng dạy.
Về các kiến nghị, luận án đã đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ gửi tới Đảng và Nhà nước: đổi mới nhận thức chính trị; hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý nhân lực; đổi mới giáo dục và đào tạo; điều chỉnh cơ chế tài chính đầu tư; tăng cường hợp tác quốc tế nhằm thích ứng với yêu cầu của Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Hiệp định TPP và các khuôn khổ hội nhập khác.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài được tác giả tự xác định xuất phát từ điều kiện nghiên cứu thực tế:
- Do giới hạn về thời gian, kinh phí, nguồn tài liệu và địa bàn khảo sát rộng khắp cả nước, luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở nhóm nhân lực có trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên.
- Bộ phận nhân lực chất lượng cao có trình độ từ trung cấp trở xuống và nhóm thợ giỏi, nghệ nhân tự học hoặc truyền nghề nắm giữ các bí quyết nghề nghiệp chưa thể thống kê và phân tích đầy đủ trong công trình này. Tác giả xác định đây là nội dung sẽ tiếp tục theo đuổi trong các nghiên cứu tiếp theo.
- Về nguồn dữ liệu thực chứng, các tính toán và dự báo trong một số quy hoạch nhân lực giai đoạn đầu (như Chiến lược 2011 - 2020 phê duyệt năm 2011) bộc lộ điểm chưa hoàn toàn sát với thực tiễn biến động nhanh của quá trình hội nhập quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng và lĩnh vực chuyên môn cụ thể:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Chính trị học, Xã hội học, Kinh tế chính trị, Quản trị nhân lực và Quản lý công: Công trình cung cấp phương pháp tiếp cận liên ngành và hệ thống khái niệm chuẩn mực về nguồn nhân lực trong khoa học chính trị.
- Đối với giảng viên: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng và khung lý luận về quyền lực chính trị trong quản trị nhân lực phục vụ các bài giảng về hệ thống chính trị Việt Nam và chính sách công.
- Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và người làm chính sách tại các cơ quan Đảng (Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo), các cơ quan Nhà nước (Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Khoa học và Công nghệ) và chính quyền các địa phương: Phần đánh giá thực trạng cơ chế chính sách ở Chương 3 và các đề xuất giải pháp thể chế ở Chương 4 là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, điều chỉnh các đề án quy hoạch nhân lực thích ứng với các hiệp định thương mại tự do.
Câu hỏi thường gặp
Dưới đây là các câu hỏi cụ thể về nội dung luận án và câu trả lời dựa trên các dữ kiện trong văn bản:
- Luận án xác định mốc thời gian nghiên cứu bắt đầu từ năm 2006 dựa trên những căn cứ thực tiễn và chính trị nào?
- Trả lời: Tác giả xác định mốc năm 2006 gắn liền với hai sự kiện: Văn kiện Đại hội X của Đảng (năm 2006) lần đầu tiên sử dụng chính thức thuật ngữ "nguồn nhân lực chất lượng cao", và đây cũng là thời điểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mở ra giai đoạn đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
- Tiêu chuẩn cốt lõi để xác định nguồn nhân lực chất lượng cao theo quan niệm của tác giả luận án là gì?
- Trả lời: Theo tác giả, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận giữ vai trò nòng cốt trong nguồn lao động; bảo đảm thể lực tốt, có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; có tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với hội nhập; sở hữu phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và kỹ năng xã hội chuẩn mực nhằm giải quyết các công việc phức tạp với năng suất và chất lượng cao.
- Ba cái bẫy kỹ năng thấp mà Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cảnh báo đối với các quốc gia đang phát triển được luận án trích dẫn gồm những nội dung gì?
- Trả lời: Ba cái bẫy kỹ năng thấp gồm:
- Một là: Kỹ năng của người lao động thấp, lao động ít được đào tạo dẫn đến năng suất lao động và năng lực cạnh tranh thấp; việc khai thác lợi thế chi phí lương thấp sẽ tạo vòng luẩn quẩn.
- Hai là: Trình độ công nghệ thấp, công nhân không đủ kỹ năng vận hành máy móc thiết bị hiện đại gây lãng phí, lâu dài làm triệt tiêu động lực đổi mới thiết bị và công nghệ.
- Ba là: Người lao động ít sáng kiến, sáng tạo do thiếu tích lũy kiến thức và kỹ năng qua quá trình giáo dục - đào tạo.
- Bốn vai trò của nhân lực chất lượng cao được luận án dẫn theo mô hình của Dave Ulrich (1996) là gì?
- Trả lời: Theo Dave Ulrich trong tác phẩm "Human Resource Champions", nhân lực chất lượng cao cần đảm nhiệm bốn vai trò: một nhà chiến lược, một chuyên gia trong lĩnh vực hành chính, một thủ lĩnh của các nhân viên và một tác nhân của sự thay đổi; đồng thời cần chuyển đổi tâm lý từ "những gì tôi làm" sang "những gì tôi cung cấp".
- Nguyên tắc cơ bản của thể chế cạnh tranh trong khâu nhân sự mà luận án kế thừa từ tác giả Phạm Thái Việt gồm những điểm nào?
- Trả lời: Thể chế này gồm hai nguyên tắc căn bản: Chế độ tuyển dụng dựa vào phẩm chất xứng đáng và đề bạt dựa vào hiệu quả công việc; Chế độ đãi ngộ thỏa đáng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học của tác giả Phạm Đức Tiến đã giải quyết vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế từ năm 2006 đến năm 2017 dưới lăng kính thực thi quyền lực chính trị của Đảng và Nhà nước. Thông qua việc tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu, công trình đã xác lập khung lý thuyết về vai trò điều tiết, định hướng của thể chế chính trị đối với thị trường nhân lực trình độ cao. Dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp và các so sánh quốc tế, luận án đã làm rõ những chuyển biến về quy mô cùng những nút thắt về cơ cấu, chất lượng kỹ năng và nguy cơ rơi vào bẫy kỹ năng thấp. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quá trình hoàn thiện chủ trương, chính sách quản trị nhân lực của Việt Nam trong bối cảnh tham gia sâu rộng vào các liên kết kinh tế toàn cầu.