phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 03 chƣơng: Ch ơng 1: Cơ sở khoa học về Quản lý nhà nƣớc đối với thuế xuất, nhập khẩu Ch ơng 2: Thực trạng Quản lý nhà nƣớc đối với thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh Ch ơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nƣớc đối với thuế xuất, nhập khẩu tại Cục Hải Quan TP. Hồ Chí Minh. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU 1.
Những vấn đề chung về thuế xuất, nhập khẩu 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế xuất, nhập khẩu 1. Khái niệm: Đến nay chƣa có một khái niệm chính thức nào về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tuy nhiên trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng nhƣ các quan niệm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát thành khái niệm chung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhƣ sau: Theo quy định của pháp luật, Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào NSNN. Theo các tác giả Giáo trình thuế của Học viện Tài chính: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”.
Nhà nƣớc đặt ra nhiều sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng lĩnh vực, từng đối tƣợng khác nhau. Thuế xuất, nhập khẩu là khoản thuế không thể thiếu đặc biệt khi hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển. Thuế xuất, nhập khẩu có thể hiểu là khoản thu bắt buộc điều tiết vào giá hàng hóa, dịch vụ khi trao đổi với nƣớc khác mà ngƣời sở hữu nó phải nộp cho nhà nƣớc. Thuế xuất, nhập khẩu là sắc thuế đƣợc đặt tên theo nội dung đánh thuế và đƣợc khái niệm nhƣ sau: “ huế xuất, nhập khẩu l một loại thuế gi n thu đ nh v o c c mặt h ng mậu dịch v phi mậu dịch đ ợc phép xuất khẩu, nhập khẩu qua iên giới Việt Nam”; “ huế xuất, nhập khẩu l loại thuế gi n thu đ nh v o những mặt h ng đ ợc phép xuất khẩu, nhập khẩu qua iên giới Việt Nam kể cả thị tr ờng trong n ớc v o khu phi thuế quan v từ khu phi thuế quan v o thị tr ờng trong n ớc”.
(Nguồn từ Luật thuế XK, thuế NK ) 8 Từ khái niệm và sự ra đời của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho thấy, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng có những đặc điểm của thuế nói chung đó là: hứ nhất, mang tính quyền lực nhà nƣớc; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có sự gắn bó mật thiết không thể tách rời với Nhà nƣớc, Nhà nƣớc cần có thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để đáp ứng phần nào nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nƣớc là ngƣời duy nhất có quyền đặt ra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu một mặt để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc, mặt khác qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc. hứ hai, mang tính pháp lý cao, là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nƣớc mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế đƣợc thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo. hứ a, chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội, điều đó đƣợc thể hiện ở chỗ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào ngân sách nhà nƣớc phụ thuộc vào mức tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc, nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc và các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nƣớc đặt ra trong mỗi thời kỳ. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm, đặc trƣng riêng là: - Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chỉ đánh vào hàng hoá đƣợc phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới của một nƣớc, kể cả hàng hoá đƣa vào khu chế xuất và từ khu chế xuất đƣa vào tiêu thụ trong nƣớc.
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu bởi vì thuế đƣợc cấu thành trong giá cả hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, ngƣời chịu thuế là ngƣời tiêu dùng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đó, Nhà nƣớc thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của ngƣời tiêu dùng gián tiếp thông qua ngƣời cung cấp hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. - Trong điều kiện nền kinh tế của các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, nguồn thu ngân sách nhà nƣớc từ các sắc thuế nội địa chƣa đảm bảo, nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu lớn, thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một nguồn thu lớn và tƣơng đối ổn định cho ngân sách nhà nƣớc, bởi vì thuế xuất khẩu, thuế nhập 9 khẩu nằm trong giá cả hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu nên số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thu đƣợc tăng tỷ lệ thuận với quy mô tiêu dùng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của xã hội. - Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc trƣng là mang tính thực thi quyền lực trong hoạt động quản lý thuế XNK đƣợc phân công phân cấp cụ thể với tổ chức bộ máy và nguồn lực đƣợc quy định cụ thể trong các văn bản QPPL. Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Về mặt kinh tế: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần của cải xã hội đƣợc tập trung vào ngân sách nhà nƣớc để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, cơ sở kinh tế hay nền tảng của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một bộ phận thu nhập đƣợc tạo ra từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Do đó việc động viên thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải có giới hạn của nó, giới hạn đó không thể vƣợt quá một mức nhất định trong tổng số thu nhập đƣợc tạo ra, mức thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nƣớc và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, ngƣợc lại nếu thuế suất quy định quá cao so với thu nhập đƣợc tạo ra thì sẽ không khuyến khích kinh doanh chân chính nữa, do đó Nhà nƣớc sẽ bị thất thu. Thực tế cho thấy, nếu qui định thuế suất quá cao thì đối tƣợng nộp thuế sẽ tìm cách để trốn thuế, lậu thuế và chi phí để chống trốn lậu thuế thƣờng cao nhƣng không mang lại kết quả mong muốn. Tuỳ theo tình hình thực tế để qui định mức thuế suất từ 0% lên đến một giới hạn nào đó sẽ đƣa đến kết quả số thuế thu đƣợc sẽ tăng theo tỷ lệ thuận với tăng thuế suất, nếu thuế suất tăng vƣợt quá giới hạn cho phép thì kết quả sẽ ngƣợc lại. Trong trƣờng hợp thuế suất quy định quá cao so với thu nhập đƣợc tạo ra, thì giải pháp duy nhất là phải hạ thấp thuế suất, đi đôi với việc tìm cách mở rộng diện thu thuế để bao quát hết nguồn thu, vừa đảm bảo tăng thu thuế vừa đảm bảo công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nƣớc.
Về mặt xã hội: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và các pháp nhân, thể nhân tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một công cụ đƣợc Nhà nƣớc sử dụng 10 để thực hiện chức năng quản lý của mình đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại, điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập xã hội giữa các tổ chức, cá nhân và Nhà nƣớc do đó thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mang tính xã hội cao. Nghiên cứu bản chất xã hội của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giúp chúng ta quán triệt đầy đủ và sâu sắc yêu cầu trong việc hoạch định chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải đảm bảo rõ ràng, đơn giản, phù hợp với trình độ của cả ngƣời thu thuế và ngƣời nộp thuế. Việc tổ chức quản lý thu thuế phải đảm bảo tính công khai, dân chủ mới đem lại hiệu quả cao, nếu không thì dù chính sách thuế có hợp lý đến đâu cũng chỉ tồn tại trên giấy.
Vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nằm trong hệ thống thuế quốc gia cho nên cũng có vai trò của thuế nói chung đó là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Dƣới góc độ một sắc thuế cụ thể, vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đƣợc phát huy ở những góc độ khác nhau tuỳ theo thực trạng phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ thể hiện trên các mặt sau: Một là, tạo nguồn thu ngân s ch nh n ớc: Để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu ngân sách nhà nƣớc, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào ngân sách nhà nƣớc. Thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Nhà nƣớc huy động một phần thu nhập đƣợc tạo ra từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá để tập trung vào ngân sách nhà nƣớc. Tuy nhiên, nếu Nhà nƣớc dùng quyền lực của mình để huy động quá mức thu nhập thì phần thuộc về tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá sẽ giảm xuống, họ sẽ cảm thấy công sức bỏ vào kinh doanh đƣợc bù đắp không thoả đáng, từ đó họ chuyển sang kinh doanh ngầm để trốn thuế hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh, dẫn đến Nhà nƣớc không thu đƣợc thuế, thất thu thuế.Vì vậy, khi tái phân phối thu nhập bằng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải chú ý đến khả năng nộp thuế của tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.
Khả năng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là 11 tỷ lệ tối đa (từ thu nhập có đƣợc thông qua hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá) trích ra để nộp thuế mà không ảnh hƣởng hoặc thay đổi hoạt động kinh doanh của họ. Khả năng nộp thuế tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, ý thức chấp hành pháp luật, truyền thống văn hoá của mỗi quốc gia.