CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU 1. Khái niệm, vai trò thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu 1. Khái niệm thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu Thuật ngữ ‘chính sách” ngày nay được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”[25, tr. Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi. Peter Aucoin quan niệm đơn giản là chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành.
Theo Nguyễn Hữu Hải (năm 2010) thì chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thế hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển Chính sách công là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế mà đề ra (Nguyễn Thị Như Mai, 2010). TS Đỗ Phú Hải thì cho rằng chính sách công “là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo một 8 mục tiêu tổng thể đã xác định” [13]. Dù được hiểu theo cách nào thì chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, phản ánh mối quan hệ nhà nước – xã hội - công dân. Đây là chính sách của nhà nước và được hiểu là chính sách của cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước bao gồm Quốc hội, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp.
Ở nước ta, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội (Điều 4, Hiến pháp) Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thông qua việc vạch ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách. Như vậy, chính sách công là chính sách của nhà nước và chính sách này cụ thể hóa đường lối, chiến lược của Đảng nhằm phục vụ lợi ích cho nhân dân. Để hiểu rõ về thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu, trước hết cần làm rõ một số khái niệm sau: Thuế xuất, nhập khẩu luôn được nhắc đến như một sắc thuế quan trọng cấu thành hệ thống thuế của mỗi quốc gia. Vì vậy, trước khi tìm hiểu về thuế xuất, nhập khẩu, khái niệm về thuế cần được nhắc đến như một bức tranh tổng thể.
Thuế, theo quy định của pháp luật, là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN). Theo Giáo trình thuế của Học viện Tài chính: “Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” [31]. Nhà nước đặt ra nhiều sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng lĩnh vực, từng đối tượng khác nhau. Theo Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội thì “Thuế là khoản nộp bắt buộc mà các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước trên cơ sở các văn bản pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, không mang tính chất đổi giá và hoàn trả trực 9 tiếp cho đối tượng nộp” [31].
Thuế xuất, nhập khẩu là khoản thuế không thể thiếu, đặc biệt khi hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển. Nó tác động đến chính sách tài chính, chính sách đối ngoại, chính sách ngoại thương của mỗi quốc gia. Thuế xuất, nhập khẩu có thể hiểu là khoản thu bắt buộc điều tiết vào giá hàng hóa, dịch vụ khi trao đổi với nước khác mà người sở hữu nó phải nộp cho nhà nước. Thuế xuất, nhập khẩu là sắc thuế được đặt tên theo nội dung đánh thuế và được định nghĩa như sau: “Thuế xuất, nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào các mặt hàng mậu dịch và phi mậu dịch được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam” Thuế xuất, nhập khẩu bao gồm thuế xuất khẩu áp dụng đối với hàng hóa di chuyển ra ngoài lãnh thổ hải quan quốc gia và thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hóa di chuyển vào lãnh thổ hải quan quốc gia.
Từ khái niệm trên cho thấy, thuế xuất, nhập khẩu có những đặc điểm như thuế, nói chung như sau: - Đều là loại thuế mang tính quyền lực Nhà nước. Bởi chỉ có Nhà nước quy định, ban hành, sửa đổi bổ sung thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, tổ chức thực hiện nhằm quản lý hoạt dộng thương mại quốc tế, bảo hộ sản xuất nội địa và thu NSNN. - Đều mang tính pháp lý cao. Bởi thuế được thể chế bằng pháp luật để Nhà nước đảm bảo thực hiện chức năng thu thuế, mọi tổ chức, cá nhân phải thực hiện.
- Đều chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội. Bởi tùy theo mức tăng trưởng và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, mức độ NSNN mà Nhà nước quy định mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp mục tiêu, yêu cầu. Ngoài những đặc điểm chung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là: 10 - Thứ nhất, thuế xuất, nhập khẩu chỉ đánh vào hàng hoá được phép xuất nhập khẩu qua biên giới của một nước. Ngoài ra còn có trường hợp đặc biệt hàng hóa là hàng xuất nhập khẩu tại chỗ không xuất nhập khẩu qua biên giới nhưng vẫn phải chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như hàng hoá giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan.
- Thứ hai, khác với thuế trực thu, thuế xuất, nhập khẩu là một loại thuế gián thu. Người tiêu dùng khi sử dụng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải chịu thuế (nộp thuế) cho Nhà nước thông qua cơ cấu giá cả của hàng hóa đó, hay nói cách khác, Nhà nước gián tiếp thu thuế xuất, nhập khẩu của người tiêu dùng thông qua người xuất khẩu, nhập khẩu. - Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chỉ đánh vào hàng hóa, không đánh vào dịch vụ. - Thứ tư, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để thực hiện cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
- Thứ năm, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế ít ổn định. Thu ngân sách từ loại thuế này phụ thuộc nhiều vào cung cầu hàng hóa trên thị trường, vào giá cả hàng hóa quốc tế, vào khả năng kiểm soát nạn buôn lậu và nhất là phụ thuộc và sự giao lưu liên minh, liên kết và hội nhập kinh tế thế giới. - Thứ sáu, đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân trực tiếp có hành vi xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới hoặc các hình thức khác được coi là xuất nhập khẩu (xuất nhập khẩu tại chỗ). Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trong quản lý xã hội nói chung và quản lý thuế nói riêng.
Do vậy có thể hiểu, quản lý thuế là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế. Có rất nhiều khái niệm quản lý thuế. Khái niệm quản lý thuế được tiếp 11 cận theo hai phạm vi: Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của nhà nước liên quan đến thuế. Bao gồm từ ban hành pháp luật về thuế, tổ chức thực hiện thu nộp và sử dụng tiền thuế.
Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý thuế thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý thu, nộp thuế của các đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế, bảo đảm thu đùng, thu đủ, nộp kịp thời vào NSNN. Để phù hợp với thực tế pháp luật Việt Nam, tác giả luận văn sử dụng khái niệm quản lý thuế xuất, nhập khẩu theo nghĩa hẹp trong luận văn này. Theo đó: Quản lý thuế xuất, nhập khẩu là quản lý hành chính nhà nước về thuế xuất, nhập khẩu; là hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Hải quan trong quản lý thu, nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu của các tổ chức, cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu thực chất là một chính sách công.
Như vậy, thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách, được tiến hành ngay sau khi chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu được ban hành. TS Nguyễn Hữu Hải, việc tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách có hiệu quả. Thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống. Vai trò của thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu Trước hết, cần hiểu về vai trò của thuế xuất, nhập khẩu.
Giống như các sắc thuế khác, thuế xuất, nhập khẩu có vai trò: (i) tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho 12 việc phát triển lâu dài; (ii) điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng; và (iii) góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong quan hệ quốc tế khi tham gia ký kết các điều ước, hiệp định song phương, đa phương, góp phần đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội. Việc thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu có vai trò hết sức quan trọng, đó là: - Biến ý đồ chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu thành hiện thực: Chính sách là công cụ để thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng. Thực hiện chính sách quản lý thuế xuất, nhập khẩu chính là việc chuyển thể từ ý tưởng của Đảng, Nhà nước thành những việc làm, hành động, những biện pháp cụ thể đối với các đối tượng thực thi chính sách thuế xuất, nhập khẩu. Từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp để quản lý chính sách thuế xuất, nhập khẩu.