CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XNK 1. Tổng quan về thuế a. Khái niệm Từ trước đến nay, trên các sách báo kinh tế của thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về thuế, tùy vào góc độ nghiên cứu mà người ta có những quan niệm khác nhau về thuế, phù hợp với lĩnh vực mà họ nghiên cứu.
Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm là: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá. Với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nước. Còn theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nước Mỹ đã đưa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế khoá: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong cuốn từ điển của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay DN (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.
Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. Luan van 9 Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt; theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng KTXH của Nhà nước. Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế.
Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp,. buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định. Các nhà kinh tế đều cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây: + Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước; + Việc nộp thuế được pháp luật quy định. + Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung.
Từ các góc độ nghiên cứu và các yêu cầu nêu trên, có thể hiểu thuế theo khái niệm như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật do nhà nước ban hành; không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho NNT và sử dụng cho mục đích công cộng. Như vậy, thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và Pháp luật. Đặc điểm của thuế Thuế là một trong những công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản như sau: - Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây.
Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của ĐTNT được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. - Thứ hai, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách. Tính chất bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với NNT, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Tính chất bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tính không hoàn trả.
Do thuế không có tính hoàn trả, về mặt lý thuyết khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế - hành vi chuyển giao một khối lượng tài sản cho nhà nước và chắc chắn không nhận lại chúng trong tương lai. Vì vậy, để thực hiện thu thuế ổn định, phải sử dụng biện pháp bắt buộc như một thuộc tính cơ bản của thuế. - Thứ ba, thuế gắn với yếu tố quyền lực. Tính quyền lực của thuế được xuất phát bởi lý do xuất hiện các khoản thu về thuế của nhà nước.
Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Các nhà kinh tế chính trị đều thống nhất cho rằng thuế là biện pháp chủ yếu của nhà nước can thiệp vào nền kinh tế. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước tạo ra cho thuế tính ổn định, sự tuân thủ của NNT. Các yếu tố như NNT, thuế suất… được quy định trước và mang tính ổn định trong một thời gian nhất định.
Chỉ Luan van 11 gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho nhà nước. - Thứ tư, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thuế không phải là khoản trả phí khi NNT đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi cụ thể từ phía nhà nước. Bất kỳ ai, khi đủ điều kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được lợi ích công nào.
Điều này cho phép phân biệt thuế với các khoản thu nộp do đối tượng nộp khi thực hiện nghĩa vụ của mình khi đã nhận được một lợi ích nhất định từ phía nhà nước (đó là các khoản thu từ phí, lệ phí). Thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của nhà nước, của các chủ thể quản lý xã hội. Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công (những lợi ích không thể xác định theo giá trị vật chất). Điều đó lý giải tại sao thuế là các khoản thu không có tính chất hoàn trả trực tiếp.
Tuy vậy, kết quả những sản phẩm do nhà nước sử dụng các khoản thu từ thuế lại được hưởng thụ bởi chính NNT, đó là sự bình yên xã hội, sự phát triển và thịnh vượng, chế độ phúc lợi công cộng… Nói khác đi, NNT được hoàn trả một cách gián tiếp những khoản nộp cho nhà nước. Vai trò của thuế Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện KTXH nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển KTXH. Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây: - Thứ nhất, thuế tạo nguồn thu cho NSNN: Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là NSNN.
NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công Luan van 12 cộng. Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu NSNN. Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm. Hầu như mọi khoản chi tiêu của NSNN đều dựa vào sự đóng thuế của người dân.
Vì vậy, xã hội có trách nhiệm phải tôn trọng NNT, những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho Nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp. - Thứ hai, thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập. Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự điều tiết này thể hiện ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập của các ĐTNT và các thành viên trong xã hội.
Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất. đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội. Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế TTĐB. Loại thuế này có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền.
Các hàng hóa dịch vụ này thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ. - Thứ ba, thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động SXKD: Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, CQT và các cơ quan liên quan phải bằng Luan van 13 mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở SXKD, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có.