CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CÁC KHOẢN THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT 1. Khái niệm về kiểm soát Theo giáo trình Quản lý học của Trường Đại học kinh tế Quốc dân: Kiểm soát là chức năng quan trọng của nhà quản lý nhằm thu thập thông tin về các quá trình, hiện tượng đang diễn ra trong một tổ chức. Tính chất quan trọng của kiểm soát được thể hiện ở cả hai mặt.
Một mặt, kiểm soát là công cụ quan trọng để nhà quản lý phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh. Mặt khác, thông qua kiểm soát, các hoạt động sẽ được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được sai sót có thể này sinh. Kiểm soát không phải là một hoạt động đan xen mà là quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian. Chức năng quản lý của hoạt động kiểm soát là giám sát, đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện để đảm bảo rằng các mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch vạch ra để đạt tới các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành.
Mặc dù quy mô của việc kiểm soát thay đổi theo cấp bậc của các nhà quản lý, nhưng tại mọi cấp, các nhà quản lý đều phải có trách nhiệm đối với việc thực thi các kế hoạch của cấp đó và do đó kiểm soát là chức năng quản lý cơ bản ở mọi cấp. Từ nhận định trên, có thể khái quát rằng: Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo thực hiện theo kế hoạch. [4, Tr 864-865] Kiểm soát có đặc điểm là mang tính quyền lực, có tính mục đích, gắn với một chủ thể và một đối tượng nhất định. Hoạt động kiểm soát phải trả lời được các câu hỏi: Người, tổ chức nào có quyền thực hiện việc theo dõi, xem Luan van 10 xét việc thực hiện của người, tổ chức khác? kiểm soát dựa trên quy định nào? Ai kiểm soát ai và kiểm soát cái gì? Quá trình kiểm soát thường bao gồm các bước sau: - Bước 1: Xác định mục tiêu, nội dung kiểm soát; - Bước 2: Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm soát; - Bước 3: Giám sát, đo lường việc thực hiện theo tiêu chuẩn; - Bước 4: Đánh giá kết quả hoạt động trong thực hiện các tiêu chuẩn nhằm đảm bảo đạt mục tiêu quản lý.
- Bước 5: Điều chỉnh sai lệch dựa trên kết quả đánh giá. Vai trò của kiểm soát Một là, kiểm soát giúp nhà quản lý theo sát và đối phó với sự thay đổi của môi trường. Thông qua hoạt động kiểm soát nhằm thu thập thông tin về các quá trình, hiện tượng diễn ra về các hành vi của công dân, cơ quan, tổ chức đối chiếu với quy định của pháp luật để đánh giá và có hướng điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Hai là, kiểm soát giúp ngăn chặn các sai phạm có thể xảy ra trong quá trình quản lý.
Kiểm soát không có nghĩa là chỉ phản ứng lại những sự kiện sau khi đã xảy ra. Kiểm soát cũng có nghĩa là giữ cho tổ chức hoạt động theo đúng định hướng và dự kiến các sự kiện có thể xảy ra. Với vai trò này, kiểm soát nhằm phát hiện kịp thời những sai phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của cá nhân, tổ chức, đánh giá hoạt động đã làm, so sánh với kế hoạch đã đề ra và điều chỉnh để hoạt động đi vào đúng quỹ đạo. Ba là, kiểm soát giúp đảm bảo thực thi quyền lực của nhà quản lý.
Điều này rất quan trọng đối với nhà quản lý, vì mất quyền kiểm soát có nghĩa là nhà quản lý đã bị vô hiệu hóa, hệ thống có thể bị lái theo hướng không mong muốn. Trong quản lý thì ủy quyền cho cấp dưới là một vấn đề quan trọng và vì vậy kiểm soát giúp nhà quản lý giám sát hoạt động của cấp dưới và đánh giá hiệu quả hoạt động điều hành của cấp dưới. Luan van 11 Bốn là, kiểm soát nhằm hoàn thiện các quyết định của quản lý. Kiểm soát để thẩm định tính đúng, sai của đường lối, chiến lược, kế hoạch; tính tối ưu của cơ cấu tổ chức quản lý; tính phù hợp của các phương pháp mà nhà quản lý đã và đang sử dụng để đưa hệ thống tới mục tiêu đã định.
Phân loại kiểm soát a. Phân loại kiểm soát theo cấp độ của hệ thống kiểm soát Kiểm soát chiến lược: là những hoạt động kiểm soát không hướng vào việc đánh giá, xem xét hệ thống công tác quản lý của một tổ chức mà nhằm phân tích, đánh giá khả năng phát triển của tương lai. Ở cấp độ này, hoạt động kiểm soát đối với các tổ chức nhà nước do cơ quan quản lý ngành hay lĩnh vực thực hiện đối với các đơn vị trực thuộc trong việc chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, nguyên tắc quản lý về ngành hay lĩnh vực hoạt động.[4,Tr 886] Kiểm soát tác nghiệp: là hoạt động kiểm soát chỉ tập trung vào những chuyên đề, vụ việc, sự kiện cụ thể nào đó nhằm đưa ra những tiêu chuẩn cho việc thực hiện kế hoạch và để so sánh những kết quả thực tế về sản phẩm, dịch vụ đối với tiêu chuẩn đã quy định dưới dạng số lượng, chất lượng, thời gian và chi phí. Phân loại kiểm soát theo quá trình hoạt động Kiểm soát trước hoạt động (kiểm soát lường trước): là hình thức ngăn ngừa những gì đã có thể biết trước nhằm không cho nó xảy ra ( nếu như tác động xấu đến sự đạt được mục tiêu của tổ chức).
Kiểm soát lường trước giúp nhà quản lý ngăn ngừa được các vấn đề có thể gây khó khăn cho mục tiêu của tổ chức khi nó xảy ra.[4,Tr 888] Kiểm soát trong hoạt động ( kiểm soát kết quả của từng giai đoạn hoạt động): là một hình thức giám sát và các nhà quản lý đưa ra các hoạt động điều Luan van 12 chỉnh ngay khi giám sát. Dạng kiểm soát này nhằm điều chỉnh kịp thời trước khi xảy ra hậu quả nghiêm trọng. [4,Tr 889] Kiểm soát kết quả ( kiểm soát sau hoạt động): là hình thức đo lường kết quả cuối cùng của hoạt động, nguyên nhân của sai lệch so với các tiêu chuẩn và kế hoạch được xác định và điều chỉnh cho những hoạt động tương tự trong tương lai. Dạng kiểm soát này giúp nhà quản lý nhìn lại cụ thể hơn về các kế hoạch đã được vạch ra.
Các dạng kiểm soát trên đều là cần thiết và được áp dụng tổng hợp để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Phân loại kiểm soát theo tần suất của quá trình hoạt động Kiểm soát định kỳ: là hình thức kiểm soát được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt. Dạng kiểm soát này tạo thuận lợi cho việc chuẩn bị một cách tốt nhất quá trình hoạt động như lực lượng tiến hành, thời gian, tài liêu liên quan, thu thập thông tin, khảo sát thực tế.nhằm làm cho hoạt động kiểm soát đạt được hiệu quả cao nhất. [4,Tr 890-891] Kiểm soát đột xuất: là hình thức kiểm soát được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do thủ trưởng cơ quan quản lý có thẩm quyền giao cho.
Kiểm soát đột xuất thường gắn liền với những vấn đề cấp thiết, bức xúc nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các sai phạm để năng cao hiệu quả quản lý. [4,Tr 891] Kiểm soát thường xuyên: là hoạt động giám sát thường xuyên trong mọi thời điểm đối với đối tượng bị kiểm soát. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THUẾ XNK 1. Khái niệm về thuế và thuế XNK a.
Khái niệm về thuế “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, hoặc bằng hiện vật mà các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo quy định của pháp Luan van 13 luật thuế đối với nhà nước, thuế không mang tính chất đối giá, không hoàn trả trực tiếp cho nhười nộp thuế, và nhà nước dùng tiền thuế để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng”. Khái niệm về thuế XNK “Thuế XNK là loại thuế gián thu đánh vào những mặt hàng được phép XK, NK qua biên giới Việt Nam, kể cả thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước”. Các loại thuế và thu khác đối với hàng hóa XNK a. Các loại thuế đối với hàng hóa XK, NK - Thuế XK; - Thuế NK; - Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa NK; - Thuế GTGT đối với hàng hóa NK; - Thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa NK; - Thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp.
Các khoản thu khác - Tiền chậm nộp thuế; - Tiền phạt vi phạm hành chính về hải quan, về thuế; - Tiền bán hàng tịch thu; - Lệ phí hải quan. Trong phạm vi Luận văn này, chỉ đề cập đến các khoản thu về thuế đối với hàng hóa XNK. Căn cứ tính thuế đối với hàng hóa XNK a. Đối với hàng hoá áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm - Căn cứ tính thuế, gồm: số lượng hàng hoá, trị giá tính thuế, thuế suất.
- Phương pháp tính thuế: Số thuế Số lượng đơn vị từng Trị giá tính thuế Thuế suất XK, NK = mặt hàng thực tế XK, x tính trên một đơn x của từng phải nộp NK ghi trên tờ khai HQ vị hàng hoá mặt hàng Luan van 14 b. Đối với hàng hoá áp dụng thuế suất tuyệt đối - Căn cứ tính thuế, gồm: số lượng hàng hoá, mức thuế tuyệt đối. - Phương pháp tính thuế: Số tiền thuế Số lượng đơn vị từng mặt hàng Mức thuế tuyệt đối XK, NK phải = thực tế XK, NK ghi trong tờ x của một đơn vị hàng nộp khai HQ hoá c. Đối với hàng hoá áp dụng thuế hỗn hợp - Căn cứ tính thuế, gồm: số lượng hàng hoá, trị giá tính thuế, thuế suất, mức thuế tuyệt đối.
- Phương pháp tính thuế: Số tiền thuế XK, Số tiền thuế XK, NK phải nộp NK phải nộp áp Số tiền thuế áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần dụng thuế suất tuyệt XK, NK = + trăm của từng mặt hàng ghi trên đối của từng mặt phải nộp tờ khai HQ hàng ghi trên tờ khai HQ 1. Thời điểm tính thuế, tỷ giá tính thuế và thời hạn nộp thuế XNK a. Thời điểm tính thuế Theo quy định tại Thông tư 128/2013/TT-BTC thì thời điểm tính thuế XK, thuế NK, thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp là ngày đăng ký tờ khai hải quan.