CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu: Thuế xuất nhập khẩu ( custom duty ) là một biện pháp tài chính mà các nước dùng để can thiệp vào hoạt động ngoại thương. Thực chất đây là một loại thuế gián thu đánh vào hàng hoá được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biên giới.
Phân loại thuế xuất nhập khẩu: Có nhiều tiêu thức phân loại thuế xuất nhập khẩu khác nhau, theo mỗi tiêu thức phân loại lại có nhiều loại thuế xuất nhập khẩu khác nhau. Thông thường có 4 tiêu thức phân loại thuế xuất nhập khẩu, đó là: theo xu hướng vận động của hàng hoá; theo mục đích đánh thuế; theo phạm vi tác dụng và theo cách thức đánh thuế.1 Theo xu hướng vận động của hàng hoá, có 3 loại: - Thuế xuất khẩu: đánh vào giá trị hàng hoá xuất khẩu nhằm mục đích hạn chế xuất những mặt hàng cần thiết và những loại vật tư, nguyên vật liệu quý hiếm để phát triển nền kinh tế quốc dân trong nước, thoả mãn nhu cầu thị trường hoặc bảo vệ môi trường sinh thái. Trong nhiều trường hợp, thuế này còn được sử dụng để điều chỉnh hoạt động kinh tế đối ngoại. Ở những nước có nền kinh tế hướng ngoại, do chủ trương gia tăng mặt hàng xuất khẩu nên thường không đánh thuế xuất khẩu hoặc đánh thuế với mức rất thấp nhằm mục tiêu chủ yếu là quản lý.
Tuy nhiên, ở một số nước đang phát triển, thuế xuất khẩu còn được sử dụng nhằm bổ sung thu nhập cho Ngân sách Nhà nước. - Thuế nhập khẩu: đánh vào giá trị của hàng nhập vào trong nước, thuế này có mục đích ngáng trở sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường trong nước, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nội địa. 5 Hiện nay, với xu hướng hội nhập, mục tiêu bảo hộ ít được chú ý nên thuế nhập khẩu có chiều hướng giảm nhẹ. Song như vậy không có nghĩa là các quốc gia sẽ không sử dụng thuế nhập khẩu.
Với nhiều lý do kinh tế, chính trị, xã hội khác, thuế nhập khẩu vẫn được sử dụng để làm hàng rào che chắn trong hoạt động ngoại thương và gia tăng các khoản thu nhập tài chính cho Chính phủ. - Thuế quá cảnh: đánh vào hàng nước ngoài đưa qua lãnh thổ quốc gia đến nước thứ ba, nhằm mục đích tăng nguồn thu ngân sách. Nhưng loại thuế này hiện nay ít được áp dụng trong hoạt động ngoại thương do những quy định của thế giới. Theo mục đích đánh thuế, gồm: - Thuế xuất nhập khẩu có mục đích thu ngân sách: đánh vào hàng nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất hoặc thế giới có nhu cầu tiêu dùng cao để tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.
- Thuế xuất nhập khẩu bảo hộ: loại thuế này có tác dụng là bảo vệ thị trường nội địa khỏi sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài, tăng cường tính cạnh tranh của hàng hoá trong nước. Hiện nay, trong quá trình hội nhập thì loại thuế này đang dần được loại bỏ. - Thuế chống bán phá giá: có tác dụng bảo vệ thị trường nội địa khỏi việc nhập hoặc xuất những mặt hàng hoá phá giá với mức giá thấp hơn rất nhiều lần so với giá thế giới. Thuế này đảm bảo nâng giá lên mức trung bình và đem lại nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.
- Thuế bù trừ: mục đích của loại thuế này nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế khi xuất bán cho nước ngoài nhằm chiếm lĩnh thị trường. Thuế bù trừ được sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển nhằm mục địch thâu tóm thị trường nội địa và bành trướng ra thị trường thế giới. - Thuế đặc biệt, được áp dụng với tư cách: 6 + Là biện pháp bảo vệ thị trường nội địa nếu nhập khẩu những hàng hoá với một số lượng nhất định mà gây thiệt hại cho sản xuất trong nước. + Là biện pháp trừng phạt đối với những nhà kinh doanh tham gia vào các mối quan hệ đối ngoại khi vi phạm lợi ích của nhau.
+ Là biện pháp thực hiện tác động phân biệt đối xử với những nước nhất định. + Là biện pháp ngăn chặn sự cạnh tranh không lành mạnh - Thuế ưu đãi: là những ưu đãi thuế áp dụng trong quan hệ với một hoặc một vài nước để khuyến khích nhập khẩu những hàng hoá nhất định. Theo phạm vi tác dụng, gồm: - Thuế tư quản: là một loại thuế dựa trên chủ quyền quốc gia quy định, không phụ thuộc vào yếu tố chi phối của bên ngoài. Tuỳ theo quan hệ với đối tác mà người ta có sự phân biệt đối xử bằng hệ thống thuế suất cao thấp khác nhau (thuế suất tối đa, thuế suất tối thiểu).
- Thuế theo hiệp định: trong đàm phán thương mại quốc tế, thuế là một yếu tố thường được đưa ra đàm phán; nội dung đàm phán về thuế ở nhiều khía cạnh song không thể không đề cập đến vấn đề thuế suất. Khi các hiệp định về thuế đã được thông qua, các nước tham gia hiệp định phải từ bỏ tính chất chủ quyền trong đánh thuế xuất nhập khẩu và phải tuân thủ theo hiệp định thuế đã ký kết. Theo cách thức đánh thuế, gồm: - Thuế đơn vị: về mặt pháp lý quy định một khoản tiền nộp trên một đơn vị vật lý của hàng hoá, nó không phụ thuộc vào sự biến động giá cả của hàng hoá. - Thuế tỷ lệ: về mặt pháp lý được ấn định theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu, có thể bao gồm cả chi phí lưu thông tuỳ 7 theo quy định của mỗi nước.
- Thuế kết hợp: là một loại thuế đánh trên đầu hàng hoá xuất nhập khẩu vừa theo đơn vị vật lý, vừa theo tỷ lệ trên giá cả của hàng hoá. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu: 3. Thuế xuất nhập khẩu là một công cụ của chính sách thương mại (chính sách bảo hộ mậu dịch): Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá thì tự do hoá thương mại là xu hướng tất yếu, các nước đang phát triển phải đứng trước cuộc cạnh tranh khốc liệt, không ngang sức. Đứng trên phương diện lý thuyết, cạnh tranh là nhân tố quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển, nhưng mặt tích cực đó của cạnh tranh chỉ có thể có được chung sản xuất, chất lượng thấp, trong giai đoạn đẩu tư ít có khả năng đương đầu trong cuộc cạnh tranh với nền kinh tế của các nước phát triển.
Do đó yêu cầu bảo hộ là tất yếu. Chính phủ các nước này đều muốn sử dụng công cụ thuế xuất nhập khẩu trong hoạt động kinh tế đối ngoại để bảo hộ có giới hạn nền sản xuất trong nước. Tuy nhiên, nếu quá trình nhấn mạnh đến tác dụng bảo hộ của thuế xuất nhập khẩu sẽ làm cho nền kinh tế đi đến xu hướng tự cung tự cấp, không có khả năng mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài, sớm muộn sẽ đưa đến nền kinh tế tụt hậu. Thuế xuất nhập khẩu và việc làm: Thông qua điều chỉnh mức thu thuế xuất nhập khẩu mà gây nên áp lực tăng giá hàng nhập khẩu, từ đó gây nên phản ứng của người tiêu dùng trong nước, hướng cầu vào sản phẩm nội địa.
Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước phát triển sản xuất, thu hút lao động, do đó làm giảm thất nghiệp. Thuế xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài: Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ tiết kiệm nội địa không đáng kể, đồng tiền ít 8 có khả năng chuyển đổi như nước ta thì nhu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hết sức cấp bách. Để đạt được mục tiêu đó, phương hướng chung của công cuộc cải cách, đổi mới chính sách thuế xuất khẩu là giảm nhẹ thuế suất, liên kết Chính phủ các nước để hạn chế việc đánh thuế trùng, tạo ra sự thông thoáng về chính sách, chế độ thuế với nhà đầu tư. Mức thuế nhập khẩu giảm sẽ khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tăng đầu tư vào trong nước từ đó thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển.
Thuế xuất nhập khẩu là một bộ phận của chính sách tài chính quốc gia Thuế xuất nhập khẩu là một nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Đặc biệt đối với những nước đang phát triển như nước ta thì đây là một nguồn thu quan trọng. Hiện nay, tuy đang trong quá trình hội nhập việc cắt giảm thuế quan là tất yếu để tham gia kinh tế khu vực và thế giới nhưng thuế xuất nhập khẩu vẫn là một nguồn thu đáng kể cho Ngân sách Nhà nước. Tác động của thuế xuất nhập khẩu: 4.
Ảnh hưởng cân bằng cục bộ của thuế xuất nhập khẩu: Theo đồ thị 1, ta có: Dx là đường cầu và Sx là đường cung bằng hoá X của quốc gia 1 (QG 1) ( là một nước nhỏ). Khi chưa có thương mại, cung cầu gặp nhau tại E. Tại đó, nhu cầu là 30 đơn vị hàng hoá X được bán với giá $3. Khi có thương mại tự do, giá cả thế giới của hàng hoá X là $1, ở mức này, QG 1 sẽ tiêu dùng 70 X ( đoạn AB),trong đó 10X ( đoạn AC) là sản xuất trong nước, còn lại 60X (đoạn CB) là nhập khẩu từ bên ngoài.
Giả sử QG 1 đánh thuế 100% trên hàng hoá nhập X, giá cả trong 9 nước của hàng hoá sẽ tăng lên $2. Tại mức giá cao hơn này, tiêu dùng sẽ chỉ còn là 50X ( đoạn GH), trong đó 20X ( đoạn GJ) được sản xuất trong nước và còn lại 30X ( đoạn JH) được nhập từ bên ngoài. Đường nằm ngang ( SF + T) là đường cung của thế giới về hàng hoá X đối với QG 1 khi có thuế quan. Lúc này, số tiền thuế Chính phủ thu được bằng $30 ($1 cho mỗi đơn vị hàng hoá nhập).
Trên đồ thị 1, lợi ích mà nhà nước thu được do áp dụng thuế quan tương ứng diện tích hình chữ nhật MNHJ. Như vậy, ảnh hưởng tiêu dùng của thuế là (-)20X ( BN); ảnh hưởng sản xuất là 10X (CM); ảnh hưởng nhập khẩu là (-)30X (CM + BN); ảnh hưởng nhập là $30 (MNHJ). Px($) Sx 5 4 E 3 J H Sf +T 2 A C M N B Sf 1 Dx 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 X Đồ thị 1: Ảnh hưởng cân bằng cục bộ của thuế quan.